Chính sách bảo hiểm thất nghiệp hiện nay
đã mở rộng đáng kể về quyền lợi cho người lao động, đồng thời nới lỏng một số
điều kiện thụ hưởng và bổ sung nhiều chế độ hỗ trợ.
Tuy nhiên, song song với việc mở
rộng đó, pháp luật cũng quy định rất rõ trách nhiệm của các bên liên quan, từ
người lao động, người sử dụng lao động đến các cơ quan, tổ chức trong quá trình
thực hiện chính sách.
Theo ông Trần Tuấn Tú, Trưởng phòng Bảo hiểm thất
nghiệp, Cục Việc làm (Bộ Nội vụ), đối với các hành vi vi phạm, nếu ở mức
độ nhẹ sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định, trong đó có Nghị định số
12/2022/NĐ-CP của Chính phủ.
Hiện nay, Bộ Nội vụ đang xây dựng, trình Chính phủ
sửa đổi nghị định này để bổ sung các hành vi vi phạm liên quan đến các quy định
mới của Luật Việc làm năm 2025 và Nghị định số 374/2025/NĐ-CP.
Một số nội dung đáng chú ý đã được
quy định rõ. Chẳng hạn, trong trường hợp người lao động chấm dứt hợp đồng nhưng
người sử dụng lao động không chốt sổ, không đóng hoặc chậm đóng bảo hiểm thất
nghiệp, dẫn đến việc người lao động không được ghi nhận thời gian tham gia và
không được giải quyết quyền lợi, thì người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm
bồi hoàn toàn bộ quyền lợi liên quan.
Trên thực tế, người lao động đã
hoàn thành trách nhiệm đóng góp thông qua tiền lương hằng tháng, nhưng nếu người
sử dụng lao động không thực hiện phần nghĩa vụ của mình mà còn chiếm dụng khoản
này, sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.
Luật Việc làm 2025, có hiệu lực từ
ngày 1/1/2026 đã quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc
đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Cụ thể, theo khoản 7, Điều 33 của
Luật, người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp theo
quy định đối với người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc,
hoặc chấm dứt làm việc để kịp thời giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho
người lao động.
Trường hợp người sử dụng lao động
không đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, thì phải trả khoản tiền
tương ứng với các chế độ bảo hiểm thất nghiệp, mà người lao động được hưởng
theo quy định của pháp luật.
Điều này áp dụng với các chế độ
như: Trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ học nghề; tư vấn giới thiệu việc làm; đóng bảo
hiểm y tế cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp…
Đồng thời, khi cho rằng quyết định về bảo hiểm thất nghiệp xâm phạm
quyền lợi hợp pháp, người lao động có quyền khiếu nại qua hai cấp đến các cơ
quan có thẩm quyền, hoặc
khởi kiện trực tiếp ra Tòa án để được giải quyết theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 51 Luật Việc làm 2025, hành vi về bảo hiểm thất nghiệp là quyết định, hành vi của cơ quan Bảo hiểm xã hội, tổ chức dịch
vụ việc làm công, người có thẩm quyền trong cơ quan Bảo hiểm xã hội, tổ chức dịch vụ việc làm
công thực hiện hoặc không thực hiện trách nhiệm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Việc khiếu nại đối với quyết định,
hành vi về bảo hiểm xã hội
được thực hiện như sau: Khi có căn
cứ cho rằng quyết định, hành vi về bảo hiểm thất nghiệp là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp
pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến cơ quan Bảo hiểm xã hội hoặc tổ chức dịch
vụ việc làm công nơi người có quyết định, hành vi về bảo hiểm thất nghiệp hoặc khởi kiện tại
Tòa án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người khiếu nại không
đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu của cơ quan Bảo hiểm xã hội, hoặc hết thời hạn quy định
mà khiếu nại không được giải quyết, thì có quyền khiếu nại lần hai đến người đứng đầu cơ quan cấp
trên trực tiếp, hoặc khởi
kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người khiếu nại không
đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu của tổ chức dịch vụ việc làm
công, hoặc hết thời hạn
quy định mà khiếu nại không được giải quyết, thì có quyền khiếu nại lần hai đến người đứng đầu cơ quan
chuyên môn về việc làm của Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án.
Trường hợp người khiếu nại không
đồng ý ý với quyết quy định giải quyết khiếu nại lần hai, hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại
không được giải quyết,
thì có quyền khởi kiện tại Tòa án.
Ngoài xử phạt hành chính, pháp luật
cũng đã quy định các chế tài hình sự. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có các điều
khoản liên quan đến tội danh vi phạm quy định về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm y tế. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ban
hành nghị quyết hướng dẫn áp dụng. Gần đây, Bộ Công an đã có hướng dẫn về việc
khởi tố đối với các hành vi gian lận, chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm, cũng như
hành vi giả mạo hồ sơ để trục lợi chế độ.
Như vậy, hành lang pháp lý hiện nay đã
tương đối đầy đủ, bao gồm cả quy định hành chính và hình sự, nhằm kiểm soát việc
thực hiện chính sách, tránh tình trạng lạm dụng hoặc vi phạm.
Do đó, các chuyên gia nhấn mạnh, trong quá trình
tham gia và thụ hưởng chính sách, các bên cần tuân thủ đúng quy định pháp luật
để đảm bảo quyền lợi chính đáng, đồng thời tránh các rủi ro pháp lý có thể phát
sinh.