Khối ngoại đã bán ròng liên tục kể từ năm 2022, đặc biệt khối ngoại đã bán ròng mạnh nhất trong giai đoạn 2025 đến nay với tổng giá trị bán ròng hơn 6 tỷ USD. Ngay cả khi Việt Nam chính thức được FTSE Russell chấp thuận nâng hạng lên thị trường mới nổi, khối ngoại tiếp tục bán ròng trong suốt thời gian gần đây.
Điều này đã khiến tỷ lệ sở hữu của khối ngoại xét theo vốn hóa giảm từ mức 22% trong năm 2019 xuống còn 12% ở thời điểm hiện tại.
Trao đổi về vấn đề này trong Talk show Phố Tài chính mới đây, ông Nguyễn Quang Đạt, Tổng Giám đốc Công ty CP Chứng khoán An Bình (ABS) cho rằng, nguyên nhân chính bao gồm rất nhiều yếu tố, tiêu biểu như: Rủi ro từ thị trường bất động sản trong năm 2022.
Hai là lợi suất trái phiếu Mỹ và Nhật Bản tăng do lạm phát cao. Thứ ba là các yếu tố bất định như căng thẳng thương mại và rủi ro địa chính trị, gần đây nhất là xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran.
Việc đạt được mục tiêu nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam, điều này đã nâng cao vai trò của thị trường vốn nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng hai con số và giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng trong giai đoạn tới. Đồng thời, thị trường được nâng hạng sẽ củng cố niềm tin cho cơ quan quản lý và nhà đầu tư, từ đó hỗ trợ cho quá trình nâng các mức hạng cao hơn tại FTSE và MSCI trong tương lai.
Ông Đạt kỳ vọng từ giữa năm 2026 sẽ là thời điểm khối ngoại chững lại đà bán ròng và dần mua ròng trở lại, do vấn đề lạm phát được kỳ vọng sớm hạ nhiệt sau giai đoạn căng thẳng địa chính trị, và việc nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam cùng làn sóng IPO hay cổ phần hóa trong thời gian tới được xem là các yếu tố xúc tác cho việc mua ròng của khối ngoại.
Điểm sáng nhất trong giai đoạn này là tỷ trọng thị trường chứng khoán Việt Nam được dự báo có thể tăng cao hơn so với ước tính trên khi rủi ro địa chính trị trên thế giới cũng lại đang mở ra cơ hội cho thị trường chứng khoán Việt Nam. Giá trị vốn hóa của các thị trường tại khu vực Trung Đông đã giảm mạnh từ 35-40% trong thời gian qua, điều này sẽ khiến tỷ trọng ở các thị trường khác trong rổ mới nổi sẽ được tăng lên, chính vì thế đây là cơ hội cho thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tuy nhiên, để gia tăng dòng vốn vào Việt Nam, theo ông Đạt, cần có thêm các giải pháp để tăng tỷ trọng thị trường chứng khoán Việt Nam trong nhóm thị trường mới nổi.
Trong đó đầu tiên cần bổ sung các hàng hóa mới trên thị trường, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp nhà nước. Thứ hai là điều chỉnh các quy định của pháp luật nói chung và Luật doanh nghiệp nói riêng để tăng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong đó sớm ban hành hướng dẫn phát hành chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết.
Thứ ba là rà soát và khuyến khích các doanh nghiệp niêm yết điều chỉnh giấy phép kinh doanh để giảm nhóm ngành kinh doanh có điều kiện giúp thu hút nhà đầu nước ngoài hơn.
Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức vượt qua các điều kiện kỹ thuật của FTSE để nâng hạng thị trường. Điều này đòi hỏi các thành viên trên thị trường cần duy trì và cũng như nâng cao năng lực.
Đầu tiên là nâng cao hạ tầng công nghệ và vận hành. Dòng vốn ngoại thụ động ước tính hơn 1,5 tỷ USD sẽ đổ vào theo từng giai đoạn từ tháng 9/2026. Tốc độ khớp lệnh, xử lý thanh toán T+2, và năng lực quản trị rủi ro realtime sẽ là điều kiện tối thiểu. Các công ty chứng khoán phải đầu tư nghiêm túc vào hệ thống, đáp ứng chuẩn FIX Protocol và kết nối trực tiếp với nhà đầu tư tổ chức quốc tế.
Tiếp theo đó, các công ty chứng khoán cần nâng cao năng lực tư vấn và chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình quản lý tài sản, Hội nhập sâu đồng nghĩa với việc biên môi giới truyền thống sẽ về 0 như đã xảy ra ở Hàn Quốc trong giai đoạn tương tự.
Cuối cùng là minh bạch trong vận hành và bảo mật cao cũng là vấn đề đặt ra cho các công ty chứng khoán trong giai đoạn tới.
Công ty Chứng khoán An Bình (ABS) cũng đã xây dựng chiến lược để thích nghi với việc thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng, thông qua việc sẽ tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ ngay trong quý 2, từ đó nâng quy mô vốn chủ sở hữu lên hơn 3.500 tỷ đồng.
Việc tăng vốn không chỉ giúp cho công ty đưa được nhiều giải pháp cho nhà đầu tư trong nước mà còn sẵn sàng hợp tác với các tổ chức quốc tế trong các giao dịch có giá trị cao, đặt nền móng cho giai đoạn phát triển tiếp theo của chúng tôi. Đồng thời, việc tăng vốn này cũng giúp cho hoàn thiện các dịch vụ và giải pháp cao cấp theo mô hình quản lý tài sản nhằm đáp ứng mục tiêu cuối cùng của các nhà đầu tư là tăng trưởng lợi nhuận bền vững trên thị trường chứng khoán.
Một số công ty chứng khoán đã công bố kết quả kinh doanh. Điểm đáng chú ý là dư nợ ký quỹ trong quý 2/2026 tiếp tục tăng so với quý 1. Điều này tạo áp lực tâm lý lên thị trường khi tỷ lệ ký quỹ đang ở mức cao...
Nhà đầu tư tổ chức trong nước hôm nay mua ròng 358,3 tỷ đồng. Tính riêng giao dịch khớp lệnh, khối này mua ròng 168,8 tỷ đồng.
Định giá P/E dự phóng năm 2026 ở mức 11,7x nhưng nhiều ngành đang được giao dịch ở mức thấp hơn đáng kể. Đây cũng là vùng thấp nhất về định giá, tương đương các đợt sụt giảm mạnh từng xuất hiện vào các năm 2020, 2022 và 2025...
Thêm một nhịp “dúi” chỉ số nữa xuất hiện sáng nay, thậm chí VNI có lúc xuống dưới đáy tháng 6/2026. Thanh khoản thấp ở nhịp giảm là một tín hiệu tốt, cho thấy đợt bán dữ dội nhất đã vãn.
Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) vừa quyết định đưa cổ phiếu HVN của Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) ra khỏi diện hạn chế giao dịch kể từ ngày 14/7, sau khi hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.