
Trong bối cảnh nhiều ý kiến đang kỳ vọng vào một sự phục hồi ngày càng rõ nét hơn của thị trường bất động sản, thì những thống kê được các đơn vị tư vấn đưa ra lại chưa hẳn đã làm hài lòng giới đầu tư.
Phát triển ổn định
Theo báo cáo kết quả khảo sát thị trường bất động sản Hà Nội được công ty CBRE Việt Nam công bố ngày 5/4, trong quý 1/2016, thị trường chứng kiến tổng số 4.318 căn hộ mới được mở bán trong tổng số 16 dự án, giảm 18% so với quý 1/2015.
Trong số đó, 11 trên tổng số 18 dự án là thuộc phân khúc trung cấp, chiếm tới tới 49% tổng số lượng mở bán trong quý.
CBRE cho biết, nhìn tổng thể trên thị trường, giao dịch vẫn diễn ra sôi động với 4.048 giao dịch được ghi nhận trong quý, nhưng thấp hơn 5% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, phân khúc cao cấp và trung cấp hoàn toàn chiếm ưu thế trên thị trường với 48% và 36% thị phần. Phân khúc giá rẻ có lượng giao dịch giảm, được cho là chịu ảnh hưởng từ thay đổi chính sách gói vay 30.000 tỷ - dừng ký hợp đồng vay mới từ 31/3/2016.
Về mức giá, một số dự án có vị trí tốt với nhiều vượt trội trong tiện ích cũng như cơ sở vật chất đã tăng giá bán. Tuy nhiên, xét về bình quân thị trường, chỉ có giá sơ cấp của các dự án phân khúc trung cấp tăng 2,9%. Đối với phân khúc cao cấp và bình dân, giá sơ cấp lần lượt giảm 0,3% và 7,8%.
Mặt khác, giá thứ cấp cho thấy sự cải thiện trong phân khúc cao cấp, trung cấp và bình dân và sự sụt giảm trong phân khúc hạng sang so với quý trước, do một số dự án bị mất giá theo thời gian.
Trong những quý tiếp theo của năm 2016, phía Tây và Tây Nam thành phố là nơi có nguồn cung lớn nhất, chiếm tới 75% của cả thị trường. Ngoài ra, đáng kể đến là quận Ba Đình sẽ có thêm 3 dự án thuộc phân khúc hạng sang, cung cấp 488 căn hộ.
CBRE nhận định, với nguồn cung lớn và nhiều giao dịch được thực hiện, thị trường có thể đang phát triển ổn định sau sự tăng trưởng nhanh của năm 2015.
Trong một báo cáo tương tự của Savills Việt Nam về thị trường biệt thự, nhà liền kề, tổng nguồn cung đạt 31.712 căn, nhưng chủ yếu là trên thị trường thứ cấp, tập trung chủ yếu ở khu vực Hà Đông với 27% thị phần.
Tuy nhiên, giá thứ cấp trung bình của biệt thự lại giảm -0,8% theo quý và -2,5% theo năm; trong khi đó, giá thứ cấp trung bình của nhà liền kề tăng 1,3% theo quý và 2,9% theo năm. Tỷ lệ hấp thu trong quý giảm 13% theo quý, xuống còn 10%. Ở phân khúc này, giao dịch chủ yếu lại là nhà liền kề với 76%.
290.000 m2 sàn văn phòng ra mắt năm nay
CBRE cho biết, trong quý 1/2016, sự gia nhập thị trường của TNR Tower - có diện tích 52.800 m2 sàn - đã làm tăng thị phần của các tòa văn phòng hạng A lên 15%. Đến cuối tháng 3, tổng diện tích sàn văn phòng tương đương 1.158.000 m2, trong đó văn phòng hạng A và B lần lượt chiếm 36% và 64%.
Trong quý đầu tiên của năm, thị trường văn phòng cho thấy nhu cầu thuê khả quan, chủ yếu từ các khách thuê trong nước, với diện tích hấp thụ đạt 37.320 m2, tăng 26% so với quý trước và 8% so với cùng kỳ năm ngoái.
Tỷ lệ trống của văn phòng hạng A ở mức 18,2%, tăng 5,8 điểm % so với quý trước. Trong khi đó, tỷ lệ trống của văn phòng hạng B giảm 1,8 điểm % xuống còn 9%.
Do các dự án mới thường có giá thuê khuyến mại, thấp hơn giá trung bình của toàn thị trường, nên giá chào thuê trung bình của văn phòng hạng A giảm 4,2% so với quý trước, đạt 28,1 USD/m2/tháng. Mặt khác, giá chào thuê văn phòng hạng B tăng nhẹ 0,3% so với quý trước. Giá thuê thường tăng ở các tòa nhà phía Tây thành phố - khu vực có cơ sở hạ tầng phát triển.
Sắp tới, dự kiến sẽ có gần 290.000 m2 sàn văn phòng được ra mắt thị trường trong năm 2016. Trong đó, đáng chú ý là nguồn cung từ khu vực phía Tây sẽ chiếm đến 72% tổng thị trường cho thuê văn phòng, dẫn đến mức độ cạnh tranh trong khu vực này ngày càng cao.
Còn theo ghi nhận của Savills, sự gia tăng của giá thuê và tỷ lệ lấp đầy trung bình dẫn đến hoạt động của văn phòng dịch vụ hạng A tại khu vực trung tâm được cải thiện so với quý 4/2015, trong khi tại khu vực ngoài trung tâm, hoạt động vẫn ở mức ổn định.
CBRE dự đoán rằng năm 2016 sẽ là năm của các tòa nhà hạng A bởi sẽ không có nguồn cung mới trong năm nay. Thêm vào đó, giá thuê của các tòa nhà hạng A, đặc biệt ở khu vực phía Tây và Đống Đa, Ba Đình đang ngày càng hợp lý hơn, tạo điều kiện cho các công ty có thể thuê được sàn văn phòng chất lượng cao với cùng mức giá của các tòa nhà hạng B tại khu vực trung tâm.
Các khách hàng làm trong lĩnh vực như công nghệ, điện tử, công nghệ thông tin, ngân hàng, tài chính và bảo hiểm vẫn đi đầu thị trường trong việc mở rộng văn phòng. Đáng chú ý trong năm 2016, sự phát triển của ngành outsourcing sẽ thúc đẩy việc mở rộng diện tích thuê và kéo dài thời hạn thuê, một phần do ngày càng có nhiều nhà máy sản xuất được đặt tại Việt Nam.




Nguồn vốn luôn giữ vai trò quan trọng đối với thị trường bất động sản. Tuy nhiên, bên cạnh yêu cầu mở rộng các kênh huy động vốn, việc sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính đang trở thành một trong những vấn đề trọng tâm nhằm thúc đẩy thị trường phát triển bền vững…
Tổng số dự án, đất đai vướng mắc áp dụng cơ chế đặc thù theo Nghị quyết của Quốc hội và Nghị định của Chính phủ được Đà Nẵng hoàn thành xử lý là 206/354 dự án, đạt tỷ lệ 58,2%...
Nếu trước đây giá trị bất động sản chủ yếu hình thành từ kỳ vọng tăng giá, thì hiện nay, nhu cầu sử dụng, chất lượng quy hoạch, năng lực kết nối hạ tầng và khả năng khai thác tài sản, trở thành những yếu tố quyết định sức hấp dẫn của bất động sản…
Thị trường bất động sản công nghiệp phía Bắc tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong 6 tháng đầu năm 2026 khi nguồn cung mới được bổ sung, nhu cầu thuê ổn định và diện tích hấp thụ đất công nghiệp đạt mức cao nhất kể từ quý 1/2024. Tuy nhiên, diễn biến giữa các phân khúc vẫn có sự phân hóa, với đất công nghiệp và nhà kho xây sẵn ghi nhận kết quả khả quan hơn so với nhà xưởng xây sẵn…
Chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh cho tất cả các lĩnh vực...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.