Giữ hồn tranh làng Sình giữa nhịp sống hiện đại

Nguyễn Thuấn

16/02/2026, 06:07

Không rực rỡ sắc màu, không cầu kỳ hình thức, mà âm thầm hiện diện như một phần quen thuộc của nếp sinh hoạt tâm linh. Từ những bãi bồi ven Sông Hương, một dòng tranh mộc mạc đã nuôi dưỡng đời sống tinh thần của cả một vùng đất...

Công đoạn tô tranh
Công đoạn tô tranh

Từ trung tâm thành phố Huế, xuôi theo dòng Sông Hương chừng 90km, con đường dẫn về phường Dương Nỗ dần rời xa phố xá. Ở khúc sông hiền hòa ấy, làng Sình – tên chữ là Lại Ân – nằm nép mình bên bãi bồi ven sông. Gió sông thổi qua những hàng tre, mang theo mùi phù sa và cả cảm giác bình yên rất riêng của một làng quê xứ Huế.

Người xưa gọi nơi này là Sình, có lẽ bởi vùng đất từng là sình lầy. Còn cái tên Lại Ân lại gợi nên một tầng nghĩa khác: “cậy nhờ ơn”, thể hiện lòng biết ơn của con người với tổ tiên, thần linh – những đấng được tin là che chở cho làng xóm, mùa màng, cuộc sống. Chỉ riêng cách đặt tên đã phần nào cho thấy đây là một ngôi làng sống nặng nghĩa với tín ngưỡng và đạo lý truyền đời.

Làng Sình là một trong những làng được hình thành khá sớm ở Đàng Trong. Nằm ven Sông Hương, đối diện là Thanh Hà – Bao Vinh, từng là cảng sông sầm uất dưới thời các chúa Nguyễn, làng vừa gần đế đô, vừa thuận lợi giao thương. Không chỉ vậy, nơi đây còn từng là trung tâm văn hóa của vùng Hóa Châu xưa, với chùa Sùng Hóa – một trong những ngôi chùa lớn của cả vùng. Trong không gian ấy, nghề làm tranh dân gian tín ngưỡng đã bén rễ, tồn tại bền bỉ cho đến hôm nay.

NHỮNG BỨC TRANH GỬI GẮM NIỀM TIN DÂN DÃ

Khác với tranh Đông Hồ hay Hàng Trống thường dùng để trang trí, tranh làng Sình ra đời để phục vụ đời sống tín ngưỡng. Người làng vẫn gọi nghề này bằng nhiều cái tên: nghề giấy, nghề bồi, nghề hồ điệp, nghề Sình. Dù gọi thế nào, thì cốt lõi vẫn là nghề làm tranh giấy để cúng tế, để gửi gắm niềm tin của con người trước những điều khó lường trong cuộc sống.

Làng Sình vốn là làng nông nghiệp ven sông. Dân làng chủ yếu làm ruộng, xen kẽ buôn bán, làm nghề thủ công, học hành. Gần khu phố chợ, cảng sông, nơi đây sớm trở thành một “vệ tinh” của hệ thống thương cảng Thanh Hà – Bao Vinh. Bên cạnh những người buôn bán là đội ngũ thợ đan lát, làm nón, làm giấy, làm hương, làm hạt bỏng để cúng. Chính môi trường sinh hoạt ấy đã tạo nền cho nghề in tranh mộc bản phát triển theo một hướng rất riêng: không cầu kỳ mỹ thuật, không dành cho thú chơi tao nhã, mà phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tâm linh của cộng đồng.

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước phơi tranh dân gian làng Sình.
Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước phơi tranh dân gian làng Sình.

Tranh Sình hiện diện trong các lễ cầu an, giải hạn, cúng gia tiên, cúng cô hồn, lễ sóc vọng. Có bức được dán quanh năm trên bàn thờ, có bức chỉ dùng một lần rồi hóa đi sau lễ. Tranh không nhằm lưu giữ lâu dài, nhưng ý nghĩa tinh thần thì bền bỉ qua nhiều thế hệ.

Tranh làng Sình được làm từ giấy dó, in từng tờ bằng mộc bản để lấy đường nét, sau đó tô màu thủ công. Màu sắc không cầu kỳ, chủ yếu được pha chế từ nguyên liệu tự nhiên: bột hồ điệp, tro, gạch, lá cây… lấy từ đầm phá, đồi núi, vườn nhà. Mộc bản thường làm từ gỗ kiền, gỗ thị hoặc gỗ mít – những loại gỗ bền, chịu được thời gian.

Đề tài tranh phản ánh trực tiếp đời sống tín ngưỡng của người dân. Tranh nhân vật là nhóm phổ biến nhất, gồm tượng Bà với các mẫu tượng Đế, tượng Chùa, tượng Ngang được dán quanh năm. Có loại “con ảnh” vẽ hình đàn ông, đàn bà, trẻ nam, nữ – còn gọi là ảnh Xiêm, ảnh Phền. Những tranh như ông Điệu, ông Đốc, Tờ bếp lại được đốt sau khi cúng, như một cách gửi lễ vật về cõi âm.

Bên cạnh đó là tranh đồ vật: áo ông, áo bà, áo binh, tiền, cung tên, dụng cụ gia đình… vẽ đơn giản, kích thước nhỏ, dùng để hóa cho người đã khuất. Tranh súc vật như trâu, bò, lợn, gà, thậm chí voi, cọp hay bộ tranh mười hai con giáp cũng xuất hiện trong các nghi lễ cúng chuồng, cúng âm phần.

Tất cả đều phản ánh một tín ngưỡng cổ sơ, nơi con người hình dung thiên nhiên, tai ương thành các lực lượng siêu nhiên cần được cầu xin, nương nhờ. Cúng tranh để mong người yên, vật thịnh, mùa màng tốt tươi, trẻ con chóng lớn, người ốm chóng khỏi – những ước vọng rất đời, rất người.

Tranh làm ra không chỉ phục vụ người dân địa phương mà còn theo chân du khách, nhà sưu tầm, những người muốn tìm về một lát cắt văn hóa Huế xưa.
Tranh làm ra không chỉ phục vụ người dân địa phương mà còn theo chân du khách, nhà sưu tầm, những người muốn tìm về một lát cắt văn hóa Huế xưa.

Giữa dòng tranh tín ngưỡng ấy, vẫn có những bức mang giá trị thẩm mỹ rõ nét. Tiêu biểu là bộ Bát Âm – thực chất là hai bộ bốn bức, mỗi bức vẽ một cô gái biểu diễn nhạc cụ khác nhau. Các cô mặc áo “mã tiên” đặc trưng của Huế, phục trang nền nã, dáng đứng mềm mại.

Áo mã tiên – với áo trắng dài mặc trong, áo cánh màu mặc ngoài – từng xuất hiện trong những đám cưới lớn ở Huế, khi các em bé mặc áo này, cầm đèn lồng đi thành hai hàng. Hình ảnh ấy đi vào tranh Sình một cách tự nhiên, giản dị. Không phô trương, không trau chuốt, nhưng đủ để người xem cảm nhận được nét duyên kín đáo của con người xứ Huế.

Về kỹ thuật, tranh Sình có nhiều điểm tương đồng với tranh Đông Hồ, Hàng Trống. Điều này khiến nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong quá trình di cư vào Đàng Trong, các nghệ nhân từ Thanh Hóa đã mang theo nghề của tổ tiên để mưu sinh, rồi dần thích nghi với môi trường văn hóa Huế, tạo nên một dòng tranh riêng.

GIỮ NGHỀ GIỮ LÀNG GIỮ HỒN VĂN HÓA

Trải qua những biến động của lịch sử, nghề tranh làng Sình có lúc tưởng chừng mai một. Hiện nay, chỉ còn khoảng 6 - 10gia đình với hơn 30 nhân công sản xuất tranh chuyên nghiệp. Những cái tên như ông Kỳ Hữu Phước, bà Phan Thị Ký, bà Lê Thị Nhơn, ông Trần Viện… là những gia đình còn giữ được nguyên vẹn hệ thống mộc bản truyền thống.

Vào các tháng 10, 11, 12 Âm lịch – mùa cao điểm của lễ cúng – số hộ tham gia làm tranh tăng lên 15 - 17gia đình, với gần 100 lao động bán chuyên. Tranh làm ra không chỉ phục vụ người dân địa phương mà còn theo chân du khách, nhà sưu tầm, những người muốn tìm về một lát cắt văn hóa Huế xưa.

Năm 2016, làng nghề tranh dân gian làng Sình được công nhận là làng nghề truyền thống. Đến năm 2019, điểm du lịch làng nghề truyền thống hoa giấy Thanh Tiên – tranh dân gian làng Sình tiếp tục được ghi danh. Những quyết định ấy không chỉ mang ý nghĩa pháp lý, mà còn là sự ghi nhận cho nỗ lực gìn giữ một giá trị văn hóa bản địa.

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước với hơn 50 gắn bó với tranh Sình.
Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước với hơn 50 gắn bó với tranh Sình.

Nổi bật trong hành trình giữ nghề là nghệ nhân Kỳ Hữu Phước. Hơn 50 năm gắn bó với tranh Sình, ông không chỉ gìn giữ mộc bản cũ mà còn sáng tạo thêm nhiều bản khắc mới, lấy đề tài sinh hoạt làng quê. Xưởng tranh của ông trở thành điểm trải nghiệm, nơi du khách được tự tay in tranh, tô màu, để rồi mang về một bức tranh Sình do chính mình hoàn thành.

Ngoài nghề tranh, làng Sình còn nổi tiếng với hội vật diễn ra vào ngày mồng 10 tháng Giêng Âm lịch. Hội vật là dịp để người dân gửi gắm mong ước thần linh, tổ tiên phù hộ cho dân khỏe, làng yên, mùa màng bội thu. Đồng thời, đây cũng là sinh hoạt thể thao truyền thống, khích lệ trai tráng rèn luyện sức khỏe, giữ gìn tinh thần thượng võ.

Sới vật xưa dựng trong sân đình, nay được đưa ra khu vực ngã ba đường làng, không gian rộng rãi hơn, đủ để đón người xem từ khắp nơi. Trong tiếng hò reo, trống thúc, hình ảnh những đô vật quấn khố, chân trần trên sới đất gợi lên một không khí Tết rất Huế, rất làng quê, nơi truyền thống vẫn còn sống động giữa đời sống hiện đại.

Ở làng Sình, tranh dân gian không chỉ là sản phẩm thủ công. Đó là ký ức, là niềm tin, là cách người Huế đối thoại với quá khứ và gửi gắm ước vọng cho hiện tại. Giữa nhịp sống đổi thay, những bức tranh giấy mộc mạc ấy vẫn âm thầm giữ cho làng một mạch thở riêng, chậm rãi nhưng bền bỉ, như dòng Sông Hương vẫn lặng lẽ chảy qua bao mùa nước.

Đọc thêm

Dòng sự kiện

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).

Bài viết mới nhất

Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031

Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031

Tổng số đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI trong cả nước là 182. Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố được ấn định gồm: Hà Nội có 11 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 32; Thành phố Hồ Chí Minh có 13 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 38; Hải Phòng có 7 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 19...

Bài viết mới nhất

Giá vàng trong nước và thế giới

Giá vàng trong nước và thế giới

VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.

Bài viết mới nhất

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.

Bài viết mới nhất

Trợ lý thông tin kinh tế Askonomy - Asko Platform

Trợ lý thông tin kinh tế Askonomy - Asko Platform

Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...

Bài viết mới nhất

[Interactive]: Toàn cảnh kinh tế Việt Nam tháng 1/2026

[Interactive]: Toàn cảnh kinh tế Việt Nam tháng 1/2026

Tết về quê mẹ

Tết về quê mẹ

Ẩm thực Việt “thiên đường” đang thức giấc

Ẩm thực Việt “thiên đường” đang thức giấc

Asko AI Platform

Askonomy AI

...

icon

Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?

Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính:

VnEconomy