Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 182/NQ-CP thông qua đề xuất xây dựng 4 nhóm chính sách của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì hoàn thiện hồ sơ dự án luật, bảo đảm chất lượng và tiến độ theo quy định. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 8/7/2026.
Theo Nghị quyết, Chính phủ thống nhất thông qua 4 nhóm chính sách do Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất tại Báo cáo số 6958/BC-BNNMT ngày 30/6/2026.
Nhóm chính sách thứ nhất, tập trung hoàn thiện quy định về quản lý, sử dụng không gian biển; giao, cho thuê, đăng ký khu vực biển; phân định rõ trách nhiệm trong quản lý và tổ chức thực thi, gắn với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Theo đề xuất, nhóm chính sách này sẽ tập trung bổ sung nội dung quản lý nhà nước về quản lý, sử dụng không gian biển; nguyên tắc quản lý, sử dụng không gian biển, sử dụng khu vực biển; thiết lập cơ chế xử lý xung đột, chồng lấn, mâu thuẫn trong sử dụng không gian biển; thiết lập chế định sử dụng khu vực biển đa mục đích.
Cùng với đó bổ sung nội dung về giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển; Xây dựng quy định các hình thức khác nhau để cho phép tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển; Bổ sung nội dung để điều chỉnh hoạt động xây dựng, quản lý đảo nhân tạo, công trình trên biển; xác định và quản lý khoảng lùi xây dựng trong vùng bờ.
Nhóm chính sách thứ hai, hoàn thiện các quy định về chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển và tài sản gắn liền với khu vực biển; chuyển mục đích sử dụng khu vực biển; đồng thời quy định rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển, bảo đảm hài hòa giữa phát triển bền vững kinh tế biển với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển.
Nhóm chính sách thứ ba, dự thảo luật sẽ hoàn thiện các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu, cải thiện và phục hồi môi trường, bảo tồn, sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển và hải đảo.
Cụ thể, dự thảo sẽ sửa đổi, bổ sung nội dung quy định về kiểm soát ô nhiễm từ đất liền ra biển, kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động trên biển, gắn quản lý xả thải với quy hoạch không gian biển, hệ sinh thái biển, lưu vực sông ven biển, sức chịu tải của môi trường; việc khoanh định khu vực cấm, hạn chế xả thải; kiểm soát rác thải biển.
Bên cạnh đó là các biện pháp ngăn chặn, kiểm soát xói lở bờ biển, bảo vệ địa hình tự nhiên, cảnh quan và khu vực bờ biển trước các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường; biện pháp bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển…
Nhóm chính sách thứ tư, hướng tới xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động kinh tế trên biển và hải đảo, tạo động lực khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của kinh tế biển.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết hệ thống 4 chính sách của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được tiếp cận theo phương thức quản lý tổng hợp và bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Bốn chính sách này không tách rời mà hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thể hệ sinh thái quản trị biển hiện đại, vận hành theo logic xuyên suốt từ khâu xác lập không gian đến thúc đẩy phát triển bền vững. Quản lý chặt chẽ để phát triển bền vững, ưu đãi vượt trội, đột phá để thúc đẩy kinh tế, bảo vệ môi trường để giữ vững lợi ích quốc gia lâu dài trên biển. Đây là bước chuyển tư duy quan trọng từ quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, phù hợp với xu thế quốc tế và thực tiễn phát triển của đất nước.
Khi nguồn phát thải, điều kiện khí tượng và quá trình lan truyền ô nhiễm từ địa phương này có thể tác động đồng thời đến nhiều địa phương khác, việc kiểm soát ô nhiễm không khí cần được tiếp cận ở quy mô vùng. Từ nền tảng quản trị theo không gian môi trường hiện nay cần tiến tới xây dựng một cơ chế quản trị chất lượng không khí vùng hoàn chỉnh hơn...
Băng biển Bắc Cực đang thu hẹp nhanh chóng, nhiệt độ đại dương tăng mạnh và môi trường sống của nhiều loài sinh vật bị suy giảm. Những biến đổi tại hai cực Trái đất không chỉ là vấn đề môi trường mà còn làm gia tăng rủi ro đối với hạ tầng ven biển và các cộng đồng phụ thuộc vào đại dương…
Với một dự án carbon nói chung, một trong những yêu cầu quan trọng là dữ liệu minh bạch và đáng tin cậy bởi đó sẽ là nền tảng để có thể làm việc cùng khách hàng và nhà đầu tư tiềm năng liên quan. Các nhà đầu tư cần có những thông tin minh bạch để đưa ra những quyết định, đặc biệt cho những dự án mang tính phức tạp như dự án carbon xanh dương...
Trường hợp các yêu cầu, quy định quốc tế có thay đổi thì nghiên cứu điều chỉnh phù hợp. Không nên đặt thêm yêu cầu kiểm kê hằng năm khi chưa cần thiết, nhất là trong bối cảnh đang hoàn thiện chính sách để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng cao.
Đẩy mạnh các giải pháp dựa vào thiên nhiên, hướng tới kết hợp bảo tồn đa dạng sinh học với phát triển sinh kế, qua đó giúp cộng đồng địa phương nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm áp lực lên tài nguyên rừng…
Sau hơn 20 năm, ngành gỗ và nội thất Việt Nam đã vươn lên và nằm trong nhóm những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở khâu sản xuất, trong khi năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường còn hạn chế. Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành cần chuyển từ thích ứng sang chủ động kiến tạo và làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu.
Công an tỉnh Đắk Lắk vừa bóc gỡ đường dây phân bón giả quy mô lớn, với hơn 24.000 tấn sản phẩm được đưa ra thị trường. Số hàng này được tiêu thụ thông qua khoảng 200 doanh nghiệp, đại lý tại nhiều tỉnh, thành phố.