Ngày 18/11, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Thị Phương Hoa làm việc với Cục Biển và Hải đảo Việt Nam về tình hình thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-CP của Chính phủ về Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 theo Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.
Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa yêu cầu Cục Biển và Hải đảo Việt Nam rà soát toàn diện, báo cáo đầy đủ tình hình thực hiện các nhiệm vụ và kế hoạch triển khai trong thời gian tới theo Nghị quyết 26/NQ-CP. Đặc biệt, cần quan tâm tới đời sống của người dân ven biển, nhất là những người bị ảnh hưởng của những dự án phát triển kinh tế biển.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đề nghị Cục sớm nghiên cứu tổng kết Nghị quyết 36-NQ/TW để phục vụ xây dựng Luật Môi trường biển và hải đảo, trong đó phải nghiên cứu lợi thế của các địa phương có biển, tham khảo kinh nghiệm quản lý biển quốc tế, tiếp cận các mô hình quản trị tiên tiến và bảo đảm phù hợp thực tiễn Việt Nam.
Theo Nghị quyết số 26/NQ-CP, 12 bộ và 28 địa phương ven biển (nay là 21 địa phương) được giao triển khai 51 nhiệm vụ, dự án, trong đó Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì 12 nhiệm vụ. Đến nay, phần lớn các dự án đã được triển khai hoặc lồng ghép thực hiện.
Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết qua theo dõi và tổng hợp từ các bộ, ngành và địa phương có biển, việc triển khai Nghị quyết số 26/NQ-CP đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Theo đó, công tác quản trị biển và đại dương có bước tiến rõ rệt, đặc biệt là việc lần đầu tiên lập và phê duyệt quy hoạch không gian biển quốc gia; hệ thống pháp luật về lấn biển, giao khu vực biển ngày càng hoàn thiện; bộ chỉ tiêu thống kê và bộ chỉ tiêu đánh giá quốc gia biển mạnh đã được ban hành.
Kinh tế biển, ven biển tăng trưởng nhanh, đóng góp lớn cho phát triển kinh tế- xã hội. Nhiều ngành quan trọng như dịch vụ hàng hải, logistics, cảng biển, đóng tàu, khai thác dầu khí, nuôi biển và du lịch biển đều có bước phát triển vượt bậc; hạ tầng giao thông kết nối liên vùng được đầu tư mạnh mẽ, tạo quỹ đất và động lực hình thành các trung tâm logistics, công nghiệp ven biển. Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới đang nổi lên như động lực thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Đời sống người dân vùng biển tiếp tục được cải thiện, tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là điện, nước sạch và hạ tầng thiết yếu. Công tác bảo vệ môi trường biển được tăng cường, nhiều hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo được phục hồi; bản đồ hải đồ, địa hình đáy biển đã được hoàn thành ở phần lớn diện tích vùng biển.
Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ biển, hợp tác quốc tế với Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Canada và các tổ chức quốc tế được mở rộng; các luận cứ khoa học về hệ sinh thái, địa chất biển, thiên tai và biến đổi khí hậu từng bước được làm rõ.
Vấn đề ô nhiễm môi trường biển được kiểm soát tốt, việc quản lý hệ sinh thái biển, ven biển và đảo ngày càng được quan tâm. Đến nay cả nước có 12 Khu bảo tồn biển được thành lập với diện tích hơn 206 nghìn ha, trong đó có 185 nghìn ha biển; cơ bản hoàn thành bản đồ hải lý tỷ lệ 1:200.000 cho 82% diện tích vùng biển…
Bên cạnh những kết quả đạt được, báo cáo cũng chỉ rõ nhiều hạn chế như thiếu cơ chế đột phá để thu hút nguồn lực tư nhân; một số quy định pháp luật còn chồng chéo; kinh tế biển phát triển chưa đồng bộ; logistics và kinh tế cảng biển chậm đổi mới; ô nhiễm tại các khu công nghiệp ven biển còn tiềm ẩn.
Ngoài ra, hoạt động lấn biển chưa được đánh giá tổng thể, nguy cơ ảnh hưởng hệ sinh thái và ổn định đường bờ; quan trắc môi trường biển còn mỏng; điều tra cơ bản biển, nhất là vùng biển sâu, còn hạn chế do thiếu phương tiện, thiết bị chuyên dụng.




Các đợt nắng nóng gay gắt đang tạo thêm động lực cho du lịch quốc tế đến Trung Quốc, khi du khách không chỉ tìm kiếm những trải nghiệm về lịch sử, văn hóa mà còn muốn tìm một nơi tránh nóng. Đằng sau những “điểm đến mùa hè” này là hệ thống năng lượng, hạ tầng giao thông và công nghệ ngày càng phát triển, trong đó điện xanh đang đóng vai trò ngày càng rõ nét…
Trong năm nay, chương trình Khảo sát, đánh giá và Công bố kết quả “Doanh nghiệp ESG Xanh Quốc gia 2026 chuyển trọng tâm từ ghi nhận các mô hình xanh sang khảo sát mức độ thực hành ESG tại doanh nghiệp...
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.
Nhằm đáp ứng các quy định mới nhất từ Văn bản hướng dẫn thực thi Công ước UPOV (UPOV/INF/15/4), dự thảo Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi) đề xuất tập trung đầu mối quản lý Nhà nước về quyền đối với giống cây trồng về Bộ Khoa học và Công nghệ. Đây được xem là bước đi mang tính chiến lược nhằm kiện toàn mô hình quản lý, tăng hiệu lực thực thi, thống nhất cho toàn bộ hệ thống sở hữu trí tuệ quốc gia...
Đà Nẵng đẩy mạnh phát triển tín chỉ carbon rừng tạo nguồn lực tài chính và thúc đẩy quản lý rừng bền vững. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 có từ 1- 3 dự án carbon rừng được cấp có thẩm quyền phê duyệt; ký ít nhất một hợp đồng mua bán tín chỉ trong nước hoặc quốc tế…
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.