Thực tế này các chuyên gia chỉ ra tại cuộc họp trao đổi về “tiềm năng carbon từ cải thiện quản lý rừng trồng thông qua kéo dài chu kỳ kinh doanh” do Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm phối hợp cùng Mạng lưới carbon rừng tổ chức ngày 3/2/2026 với sự tham gia của đại diện cho các Sở Nông nghiệp và Môi trường, Chi cục Kiểm lâm, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh; các ban quản lý rừng, doanh nghiệp lâm nghiệp, chủ rừng, tổ chức, chuyên gia.
Cuộc họp nhằm làm rõ mức độ đóng góp thực tế của rừng trồng đối với việc gia tăng trữ lượng carbon và các sáng kiến carbon rừng theo các cách tiếp cận IFM tại Việt Nam, dựa trên các bằng chứng và nghiên cứu hiện có.
Các chuyên gia cũng thảo luận các vấn đề thực tiễn trong triển khai các sáng kiến carbon từ rừng trồng, bao gồm những thay đổi trong quản lý rừng và các yếu tố liên quan đến sự tham gia của các chủ rừng trong quá trình thực hiện.
Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện khung chính sách, sẵn sàng tham gia trao đổi, vận hành thị trường carbon trong nước. Mới đây, ngày 19/1/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch carbon trong nước, góp phần tạo khung pháp lý đầy đủ cho việc tổ chức, vận hành thị trường carbon tại Việt Nam... Đây là một công cụ quan trọng để thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng hoàn thiện Chương trình Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA). Trong khuôn khổ chương trình, Việt Nam đã tạo ra 16,2 triệu tCO₂tđ giảm phát thải giai đoạn 2018–2019, trong đó, 11,3 triệu tCO₂tđ đã được giao dịch, chuyển nhượng, huy động 56,5 triệu USD.
Tuy nhiên, trao đổi tại cuộc họp, bà Nghiêm Phương Thúy, đại diện Cục Kiểm Lâm và Kiểm lâm, chỉ ra hiện nay, các chương trình này đang tập trung vào đối tượng rừng tự nhiên.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, bên cạnh các chương trình carbon rừng đã triển khai với rừng tự nhiên, thì rừng trồng với quy mô khoảng 4–5 triệu ha được xác định là đối tượng có tiềm năng lớn nhưng chưa được khai thác đầy đủ.
“Với tổng diện tích rừng trồng hơn 4 triệu ha trên cả nước, đây là một tiềm năng rất lớn. Vì vậy, kỳ vọng, của các cơ quan quản lý cũng như các chủ rừng trồng mong muốn được tham gia vào thị trường carbon. Đây cũng là đối tượng đang được nhiều nhà đầu tư quan tâm”, đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho hay.
Các chuyên gia cũng đặt vấn đề: rừng trồng thuần túy hiện nay có tạo ra lợi ích carbon, tạo ra tín chỉ carbon rừng không hay phải tuân thủ các yêu cầu điều kiện trong cải thiện phương thức quản lý, hoạt động canh tác…?
Điều này đã được các chuyên gia phân tích, làm rõ thông qua dự án thí điểm cải thiện quản lý rừng thông qua kéo dài chu kỳ kinh doanh để tại ra tiềm năng hấp thụ carbon.
Bên cạnh đó, trong tiêu chuẩn carbon rừng ở Việt Nam đang được xây dựng đã đưa hoạt động cải thiện quản lý rừng thông qua kéo dài chu kỳ kinh doanh. Những chia sẻ của chuyên gia đã giúp các tổ chức đơn vị quan tâm vấn đề này nắm rõ các phương thức, yêu cầu, điều kiện cần với rừng trồng để tạo ra tín chỉ carbon tham gia thị trường.
Đại diện GIZ Việt Nam đã thông tin kết quả nghiên cứu trong khuôn khổ Dự án “Nhân rộng quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng tại Việt Nam (SFM)” về gia tăng hấp thụ carbon thông qua quản lý rừng trồng keo theo chu kỳ dài, dựa trên đo đạc thực địa tại Công ty Lâm nghiệp Sông Côn, Công ty Lâm nghiệp Quy Nhơn và Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Đặc dụng Đồng Xuân.
Theo bà Lê Thị Lộc, GIZ Việt Nam, carbon rừng là một trong những hoạt động chính của Dự án SFM và là một trong những đóng góp quan trọng cho chương trình tài chính bền vững của dự án. Hợp phần này nhằm tăng cường cả cơ sở bằng chứng khoa học và năng lực thực tiễn cho việc tích hợp tài chính carbon rừng vào quản lý rừng tại Việt Nam.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận quốc tế (VCS VM003), kết hợp dữ liệu ô tiêu chuẩn và mô phỏng tăng trưởng, cho thấy việc kéo dài chu kỳ từ 5–6 năm lên khoảng 10–11 năm có thể tạo ra lượng hấp thụ carbon bổ sung, sau khi đã tính đến các yếu tố khấu trừ bắt buộc như độ không chắc chắn, rò rỉ và rủi ro không lâu dài.
“Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc chuyển đổi từ sản xuất sinh khối sang sản xuất gỗ lớn với phương pháp quản lý thích ứng và kéo dài chu kỳ rừng trồng keo lên 10-11 năm có thể dẫn đến việc hấp thụ thêm 4,2 tCO2/ha/năm”, đại diện GIZ cho biết.
Trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện khung chính sách và thể chế cho các công cụ thị trường carbon, các giải pháp tăng cường hấp thụ carbon từ rừng ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm, đặc biệt đối với rừng trồng.
Rừng trồng- bao gồm rừng trồng sản xuất và rừng trồng phòng hộ- được đánh giá là có tiềm năng đáng kể trong việc gia tăng trữ lượng carbon và đóng góp cho việc thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC).
Tuy nhiên, để chuyển hóa các tiềm năng này thành kết quả giảm phát thải có thể ghi nhận – như nguồn tài chính dựa trên kết quả hoặc tín chỉ carbon có thể giao dịch – đòi hỏi các kết quả carbon phải được lượng hóa, xác minh và đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm tính toàn vẹn theo các tiêu chuẩn tạo tín chỉ carbon.
Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ carbon rừng của Việt Nam hiện đang xem xét cả hai phương thức: trồng rừng mới, tái trồng rừng (ARR) và cải thiện phương thức quản lý rừng (IFM) như các loại hình có thể tạo tín chỉ carbon rừng. Trong đó, một số báo cáo và nghiên cứu kỹ thuật gần đây đã nhấn mạnh IFM áp dụng cho rừng trồng hiện có, đặc biệt là phương án kéo dài chu kỳ kinh doanh như một hướng tiếp cận có tính khả thi trong ngắn hạn.
Trên thực tế, thách thức của IFM không chỉ nằm ở mức độ tham vọng về kỹ thuật, mà còn ở yêu cầu triển khai trên quy mô đủ lớn, đồng thời bảo đảm tính toàn vẹn môi trường, hiệu quả kinh tế và sự phù hợp với các điều kiện quản lý hiện hành.
Bên cạnh đó, tại nhiều địa phương, rừng trồng có tính manh mún cao; các quyết định vận hành như thời điểm khai thác, tái trồng hay việc tuân thủ chu kỳ kinh doanh dài hơn không chỉ phụ thuộc vào các đơn vị quản lý quy mô lớn như chủ rừng nhà nước, mà còn gắn chặt với động lực và sự tham gia của các hộ trồng rừng quy mô nhỏ.
Trong khi các nghiên cứu kỹ thuật chủ yếu tập trung vào tiềm năng carbon và các khía cạnh đo đạc – báo cáo – xác minh (MRV) của IFM, thì các vấn đề về sự tham gia của các chủ rừng và cơ chế liên kết để hình thành quy mô diện tích đủ lớn trong bối cảnh rừng trồng manh mún vẫn là những thách thức thực tiễn cần tiếp tục được trao đổi và làm rõ.
Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ carbon rừng, trong đó cải thiện quản lý rừng trồng (IFM) được xác định là một trong các loại hình dự án đủ điều kiện. Các chuyên gia cũng làm rõ các yêu cầu cốt lõi của dự án carbon rừng, bao gồm: tính bổ sung, xác định mức tham chiếu, đo đạc- báo cáo- thẩm định (MRV), quản lý rủi ro, đảm bảo an toàn môi trường- xã hội, cũng như quy trình đăng ký và công nhận tín chỉ theo các nghị định liên quan.
Một điểm được nhấn mạnh là không phải mọi cải tiến lâm sinh đều tự động tạo ra tín chỉ carbon; dự án chỉ được công nhận khi chứng minh được lượng hấp thụ bổ sung so với kịch bản kinh doanh thông thường.




Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng toàn cầu diễn ra mạnh mẽ, nhu cầu năng lượng tiếp tục gia tăng song song với yêu cầu giảm phát thải, các doanh nghiệp dầu khí trên thế giới đang từng bước tái định vị mô hình phát triển.
Việc năng lượng tái tạo ngày càng chiếm tỷ trọng lớn khiến Liên minh châu Âu (EU) phải đẩy nhanh phát triển hệ thống lưu trữ điện để tránh lãng phí nguồn điện từ gió và mặt trời. Một thỏa thuận mới được ký kết đặt mục tiêu nâng công suất lưu trữ của khối lên gần gấp ba vào năm 2030, qua đó giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và ổn định giá điện…
Chính sách định giá carbon cần được thiết kế vừa đạt mục tiêu giảm phát thải, vừa bảo vệ các hộ dễ bị tổn thương và bảo đảm quá trình chuyển dịch diễn ra công bằng...
Để phát triển làng nghề bền vững cần chuyển tư duy quản lý và hỗ trợ riêng lẻ đối với từng cơ sở sản xuất sang quản lý tổng thể quá trình phát triển. Nền tảng cốt lõi theo hướng đa giá trị và hệ sinh thái ngành nghề nông thôn…
Một nghiên cứu mới cho thấy việc làm sáng các đám mây trên Thái Bình Dương bằng cách phun muối biển vào khí quyển có thể giúp suy yếu, thậm chí ngăn chặn hiện tượng El Niño nếu được triển khai đúng thời điểm. Tuy nhiên, công nghệ này vẫn còn cách xa khả năng ứng dụng thực tế và đi kèm nhiều rủi ro về môi trường cũng như địa chính trị…
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...