Khai thác tiềm năng hấp thụ carbon từ hơn 4 triệu ha rừng trồng

Tùng Dương

04/02/2026, 15:09

Trong lĩnh vực lâm nghiệp, bên cạnh các chương trình carbon rừng đã triển khai với rừng tự nhiên, thì rừng trồng ở Việt Nam với quy mô khoảng 4–5 triệu ha được xác định là đối tượng có tiềm năng rất lớn nhưng hiện nay chưa được khai thác đầy đủ...

Rừng trồng là đối tượng có tiềm năng lớn nhưng chưa được khai thác đầy đủ. Ảnh minh họa
Rừng trồng là đối tượng có tiềm năng lớn nhưng chưa được khai thác đầy đủ. Ảnh minh họa

Thực tế này các chuyên gia chỉ ra tại cuộc họp trao đổi về “tiềm năng carbon từ cải thiện quản lý rừng trồng thông qua kéo dài chu kỳ kinh doanh” do Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm phối hợp cùng Mạng lưới carbon rừng tổ chức ngày 3/2/2026 với sự tham gia của đại diện cho các Sở Nông nghiệp và Môi trường, Chi cục Kiểm lâm, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh; các ban quản lý rừng, doanh nghiệp lâm nghiệp, chủ rừng, tổ chức, chuyên gia.

Cuộc họp nhằm làm rõ mức độ đóng góp thực tế của rừng trồng đối với việc gia tăng trữ lượng carbon và các sáng kiến carbon rừng theo các cách tiếp cận IFM tại Việt Nam, dựa trên các bằng chứng và nghiên cứu hiện có.

Các chuyên gia cũng thảo luận các vấn đề thực tiễn trong triển khai các sáng kiến carbon từ rừng trồng, bao gồm những thay đổi trong quản lý rừng và các yếu tố liên quan đến sự tham gia của các chủ rừng trong quá trình thực hiện.

TIỀM NĂNG HẤP THỤ CARBON THÔNG QUA QUẢN LÝ RỪNG TRỒNG, KÉO DÀI CHU KỲ KINH DOANH

Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện khung chính sách, sẵn sàng tham gia trao đổi, vận hành thị trường carbon trong nước. Mới đây, ngày 19/1/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch carbon trong nước, góp phần tạo khung pháp lý đầy đủ cho việc tổ chức, vận hành thị trường carbon tại Việt Nam... Đây là một công cụ quan trọng để thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng hoàn thiện Chương trình Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA). Trong khuôn khổ chương trình, Việt Nam đã tạo ra 16,2 triệu tCO₂tđ giảm phát thải giai đoạn 2018–2019, trong đó, 11,3 triệu tCO₂tđ đã được giao dịch, chuyển nhượng, huy động 56,5 triệu USD.

Tuy nhiên, trao đổi tại cuộc họp, bà Nghiêm Phương Thúy, đại diện Cục Kiểm Lâm và Kiểm lâm, chỉ ra hiện nay, các chương trình này đang tập trung vào đối tượng rừng tự nhiên.

Việc kéo dài chu kỳ từ 5–6 năm lên khoảng 10–11 năm có thể tạo ra lượng hấp thụ carbon bổ sung. Ảnh minh họa
Việc kéo dài chu kỳ từ 5–6 năm lên khoảng 10–11 năm có thể tạo ra lượng hấp thụ carbon bổ sung. Ảnh minh họa

Trong lĩnh vực lâm nghiệp, bên cạnh các chương trình carbon rừng đã triển khai với rừng tự nhiên, thì rừng trồng với quy mô khoảng 4–5 triệu ha được xác định là đối tượng có tiềm năng lớn nhưng chưa được khai thác đầy đủ.

“Với tổng diện tích rừng trồng hơn 4 triệu ha trên cả nước, đây là một tiềm năng rất lớn. Vì vậy, kỳ vọng, của các cơ quan quản lý cũng như các chủ rừng trồng mong muốn được tham gia vào thị trường carbon. Đây cũng là đối tượng đang được nhiều nhà đầu tư quan tâm”, đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho hay.

Các chuyên gia cũng đặt vấn đề: rừng trồng thuần túy hiện nay có tạo ra lợi ích carbon, tạo ra tín chỉ carbon rừng không hay phải tuân thủ các yêu cầu điều kiện trong cải thiện phương thức quản lý, hoạt động canh tác…?

Điều này đã được các chuyên gia phân tích, làm rõ thông qua dự án thí điểm cải thiện quản lý rừng thông qua kéo dài chu kỳ kinh doanh để tại ra tiềm năng hấp thụ carbon.

Bên cạnh đó, trong tiêu chuẩn carbon rừng ở Việt Nam đang được xây dựng đã đưa hoạt động cải thiện quản lý rừng thông qua kéo dài chu kỳ kinh doanh. Những chia sẻ của chuyên gia đã giúp các tổ chức đơn vị quan tâm vấn đề này nắm rõ các phương thức, yêu cầu, điều kiện cần với rừng trồng để tạo ra tín chỉ carbon tham gia thị trường.

Đại diện GIZ Việt Nam đã thông tin kết quả nghiên cứu trong khuôn khổ Dự án “Nhân rộng quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng tại Việt Nam (SFM)” về gia tăng hấp thụ carbon thông qua quản lý rừng trồng keo theo chu kỳ dài, dựa trên đo đạc thực địa tại Công ty Lâm nghiệp Sông Côn, Công ty Lâm nghiệp Quy Nhơn và Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Đặc dụng Đồng Xuân.

Theo bà Lê Thị Lộc, GIZ Việt Nam, carbon rừng là một trong những hoạt động chính của Dự án SFM và là một trong những đóng góp quan trọng cho chương trình tài chính bền vững của dự án. Hợp phần này nhằm tăng cường cả cơ sở bằng chứng khoa học và năng lực thực tiễn cho việc tích hợp tài chính carbon rừng vào quản lý rừng tại Việt Nam.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận quốc tế (VCS VM003), kết hợp dữ liệu ô tiêu chuẩn và mô phỏng tăng trưởng, cho thấy việc kéo dài chu kỳ từ 5–6 năm lên khoảng 10–11 năm có thể tạo ra lượng hấp thụ carbon bổ sung, sau khi đã tính đến các yếu tố khấu trừ bắt buộc như độ không chắc chắn, rò rỉ và rủi ro không lâu dài.

“Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc chuyển đổi từ sản xuất sinh khối sang sản xuất gỗ lớn với phương pháp quản lý thích ứng và kéo dài chu kỳ rừng trồng keo lên 10-11 năm có thể dẫn đến việc hấp thụ thêm 4,2 tCO2/ha/năm”, đại diện GIZ cho biết.

XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN QUỐC GIA VỀ TÍN CHỈ CARBON RỪNG VIỆT NAM

Trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện khung chính sách và thể chế cho các công cụ thị trường carbon, các giải pháp tăng cường hấp thụ carbon từ rừng ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm, đặc biệt đối với rừng trồng.

Rừng trồng- bao gồm rừng trồng sản xuất và rừng trồng phòng hộ- được đánh giá là có tiềm năng đáng kể trong việc gia tăng trữ lượng carbon và đóng góp cho việc thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC).

Tuy nhiên, để chuyển hóa các tiềm năng này thành kết quả giảm phát thải có thể ghi nhận – như nguồn tài chính dựa trên kết quả hoặc tín chỉ carbon có thể giao dịch – đòi hỏi các kết quả carbon phải được lượng hóa, xác minh và đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm tính toàn vẹn theo các tiêu chuẩn tạo tín chỉ carbon.

Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ carbon rừng, trong đó cải thiện quản lý rừng trồng (IFM) được xác định là một trong các loại hình dự án đủ điều kiện.
Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ carbon rừng, trong đó cải thiện quản lý rừng trồng (IFM) được xác định là một trong các loại hình dự án đủ điều kiện.

Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ carbon rừng của Việt Nam hiện đang xem xét cả hai phương thức: trồng rừng mới, tái trồng rừng (ARR) và cải thiện phương thức quản lý rừng (IFM) như các loại hình có thể tạo tín chỉ carbon rừng. Trong đó, một số báo cáo và nghiên cứu kỹ thuật gần đây đã nhấn mạnh IFM áp dụng cho rừng trồng hiện có, đặc biệt là phương án kéo dài chu kỳ kinh doanh như một hướng tiếp cận có tính khả thi trong ngắn hạn.

Trên thực tế, thách thức của IFM không chỉ nằm ở mức độ tham vọng về kỹ thuật, mà còn ở yêu cầu triển khai trên quy mô đủ lớn, đồng thời bảo đảm tính toàn vẹn môi trường, hiệu quả kinh tế và sự phù hợp với các điều kiện quản lý hiện hành.

Bên cạnh đó, tại nhiều địa phương, rừng trồng có tính manh mún cao; các quyết định vận hành như thời điểm khai thác, tái trồng hay việc tuân thủ chu kỳ kinh doanh dài hơn không chỉ phụ thuộc vào các đơn vị quản lý quy mô lớn như chủ rừng nhà nước, mà còn gắn chặt với động lực và sự tham gia của các hộ trồng rừng quy mô nhỏ.

Trong khi các nghiên cứu kỹ thuật chủ yếu tập trung vào tiềm năng carbon và các khía cạnh đo đạc – báo cáo – xác minh (MRV) của IFM, thì các vấn đề về sự tham gia của các chủ rừng và cơ chế liên kết để hình thành quy mô diện tích đủ lớn trong bối cảnh rừng trồng manh mún vẫn là những thách thức thực tiễn cần tiếp tục được trao đổi và làm rõ.

Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ carbon rừng, trong đó cải thiện quản lý rừng trồng (IFM) được xác định là một trong các loại hình dự án đủ điều kiện. Các chuyên gia cũng làm rõ các yêu cầu cốt lõi của dự án carbon rừng, bao gồm: tính bổ sung, xác định mức tham chiếu, đo đạc- báo cáo- thẩm định (MRV), quản lý rủi ro, đảm bảo an toàn môi trường- xã hội, cũng như quy trình đăng ký và công nhận tín chỉ theo các nghị định liên quan.

Một điểm được nhấn mạnh là không phải mọi cải tiến lâm sinh đều tự động tạo ra tín chỉ carbon; dự án chỉ được công nhận khi chứng minh được lượng hấp thụ bổ sung so với kịch bản kinh doanh thông thường.

Đọc thêm

Dòng sự kiện

Giá vàng trong nước và thế giới

Giá vàng trong nước và thế giới

VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Diễn đàn Kinh tế mới Việt Nam 2025

Diễn đàn Kinh tế mới Việt Nam 2025

Sáng kiến Diễn đàn thường niên Kinh tế mới Việt Nam (VNEF) đã được khởi xướng và tổ chức thành công từ năm 2023. VNEF 2025 (lần thứ 3) có chủ đề: "Sức bật kinh tế Việt Nam: từ nội lực tới chuỗi giá trị toàn cầu".

Bài viết mới nhất

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.

Bài viết mới nhất

Trợ lý thông tin kinh tế Askonomy - Asko Platform

Trợ lý thông tin kinh tế Askonomy - Asko Platform

Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...

Bài viết mới nhất

Ấn Độ - Việt Nam song hành cùng nhau

Ấn Độ - Việt Nam song hành cùng nhau

Khung pháp lý định hình “sân chơi” tài sản số

Khung pháp lý định hình “sân chơi” tài sản số

Đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 05-2026

Đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 05-2026

Asko AI Platform

Askonomy AI

...

icon

Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?

Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính:

VnEconomy