Thị trường carbon rừng tại Việt Nam đang nổi lên như một lĩnh vực đầy tiềm năng, hứa hẹn mang lại nguồn tài chính xanh đáng kể cho quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu đang chú trọng đến các giải pháp khí hậu dựa vào tự nhiên, Việt Nam đã và đang nỗ lực hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực quản lý để phát triển thị trường này một cách bền vững và minh bạch.
Theo Luật Lâm nghiệp 2017, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng đã được luật hóa, trở thành một trong năm loại dịch vụ môi trường rừng. Điều này tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc phát triển thị trường carbon rừng. Hiện tại, Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý để vận hành sàn giao dịch carbon vào năm 2029.
Đây là bước đi quan trọng nhằm kết nối tiềm năng rừng với dòng tài chính carbon toàn cầu, đồng thời mở ra dư địa lớn cho phát triển thị trường carbon rừng trong nước.
Bà Nghiêm Phương Thúy, đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết Bộ đang xây dựng bốn nhóm định hướng trọng tâm nhằm thể chế hóa dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng.
Nhóm định hướng đầu tiên là hoàn thiện khung pháp lý về dịch vụ này, bảo đảm kiểm soát đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), tránh tình trạng phát hành hoặc bán tín chỉ vượt quá phần đóng góp giảm phát thải của quốc gia. Song song với đó là xây dựng các nghị định liên quan đến quản lý sàn giao dịch carbon trong nước, bao gồm cả thị trường bắt buộc, cơ chế giao dịch và giám sát.
Nhóm định hướng thứ hai liên quan đến khung kỹ thuật và tiêu chuẩn cho thị trường carbon rừng. Cụ thể là xây dựng bộ tiêu chuẩn carbon rừng quốc gia, làm cơ sở để các dự án đăng ký và được công nhận theo chuẩn chung. Việc phát triển các dự án thí điểm theo tiêu chuẩn quốc gia sẽ giúp hoàn thiện phương pháp đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV), kiểm chứng thực tiễn và tạo tiền đề cho nhân rộng sau này.
Bà Thúy cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân bổ hạn ngạch NDC cho từng dự án carbon rừng nhằm tránh bán vượt phần đóng góp của quốc gia. Một hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch và tín chỉ carbon cũng cần được xây dựng để cấp, theo dõi và lưu giữ tín chỉ trước khi đưa ra giao dịch trên thị trường.
Nhóm định hướng thứ ba tập trung vào huy động nguồn lực. Bên cạnh nguồn lực quốc tế và khu vực tư nhân, việc lồng ghép hiệu quả nguồn lực từ ngân sách địa phương và các chương trình của quốc gia cũng đang được thúc đẩy mạnh mẽ.
Nhóm định hướng thứ tư là tăng cường truyền thông, đào tạo và nâng cao nhận thức. Theo bà Thúy, phát triển thị trường carbon rừng là lĩnh vực mới, đòi hỏi sự hiểu biết đồng bộ từ cơ quan quản lý, địa phương, chủ rừng, doanh nghiệp đến các tổ chức xã hội.
Bà Trần Hồng Nhung, Đại diện Đại học Flinders (Australia), cho rằng vai trò của các tổ chức tài chính trong phát triển dự án carbon rừng và thị trường carbon rừng tại Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng. Khi các nguồn lực từ ngân sách nhà nước hay từ các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, các ngân hàng thương mại, tổ chức bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ bảo lãnh, cũng như các quỹ địa phương từ trung ương đến địa phương sẽ đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp vốn, hỗ trợ kỹ thuật và tạo niềm tin cho các dự án lâm nghiệp xanh.
Với cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, cùng giá trị đa dạng sinh học phong phú và tiềm năng lớn của thị trường carbon rừng, cơ hội huy động nguồn lực cho dịch vụ hấp thụ, lưu giữ carbon rừng tại Việt Nam là rất rộng mở.
Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành hiện thực, cần sự chung tay của tất cả cấp, ngành, các đối tác phát triển, giới nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp nhằm tạo thêm giá trị cho rừng, đồng thời khai thác hiệu quả các nguồn lực cho bảo tồn và phát triển lâm nghiệp.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 1-2026 phát hành ngày 5/1/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-01-2026.htm
Dự án hướng tới hỗ trợ Việt Nam loại trừ 97,5% mức tiêu thụ cơ sở các chất HCFC từ năm 2030 và giảm 10% mức tiêu thụ cơ sở các chất HFC từ năm 2029. Dự kiến dự án giúp cắt giảm lượng phát thải hàng năm lên tới 6,1 triệu tấn CO2 tương đương; góp phần thực hiện mục tiêu đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050...
Dự án do UNESCO triển khai với nguồn tài trợ của Chính phủ Nhật Bản sẽ nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm và tăng cường năng lực ứng phó thiên tai tại Nghệ An...
Phát triển vùng nguyên liệu bền vững, mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ và khai thác thị trường tín chỉ carbon, đang được xem là những giải pháp then chốt giúp ngành gỗ Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, người trồng rừng và hoàn thiện nền tảng khoa học cho phát triển vùng nguyên liệu...
Trong tiến trình chuyển từ xây dựng chính sách thị trường carbon sang vận hành thực tế, những yêu cầu về minh bạch, năng lực thực thi và niềm tin thị trường đang trở thành rào cản không nhỏ…
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Không cần đến tận hội chợ, chỉ với một thiết bị kết nối internet, người tiêu dùng có thể tham quan, tìm hiểu và mua sắm hàng trăm sản phẩm đặc sản Hà Tĩnh trên không gian số. Triển lãm trực tuyến ứng dụng công nghệ thực tế ảo đang mở ra kênh xúc tiến thương mại hiện đại, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số cho doanh nghiệp và cơ sở sản xuất địa phương.