Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (phiên bản mới) được tái cấu trúc toàn diện, quản lý chi tiết đến từng điều, khoản, điểm.
Đặc biệt, toàn bộ dữ liệu hiện nay được thể hiện theo đúng chuẩn ngôn ngữ chung của các hệ thống pháp luật tiên tiến thế giới, giúp hệ thống không chỉ là kho lưu trữ, mà còn có khả năng kết nối liên thông với các nền tảng số khác.
Nhờ đó, nội dung văn bản được chuyển thành “dữ liệu có cấu trúc”, cho phép hệ thống máy đọc, hiểu và xử lý tự động.
Việc tái cấu trúc và chuẩn hóa dữ liệu lần này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh toàn hệ thống chính trị đang triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên phạm vi toàn quốc, với khối lượng văn bản lớn, phạm vi rộng với yêu cầu độ chính xác cao.
Lần đầu tiên, Trí tuệ nhân tạo (AI) được ứng dụng sâu rộng, giúp cho việc biên tập bảo đảm chất lượng dữ liệu “Đúng - Đủ - Sạch - Sống” và khai thác sử dụng được tối ưu, hiệu quả, chính xác.
Theo đó, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật giúp cá nhân, tổ chức tra cứu văn bản quy phạm pháp luật được trực quan, có chiều sâu và liên kết đa chiều, cũng như sự thay đổi của quy định theo thời gian, bảo đảm tính minh bạch, công khai của hệ thống pháp luật Việt Nam; giúp cơ quan Nhà nước quản lý hệ thống văn bản quy phạm pháp luật;
Đồng thời hỗ trợ công tác soạn thảo, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản, phổ biến giáo dục pháp luật và nhiều hoạt động tổ chức thi hành pháp luật khác.
Trên nền tảng dữ liệu chuẩn hóa, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trở thành một trong những thành phần lõi của Nền tảng số pháp luật Việt Nam.
Đây đồng thời là hạ tầng dữ liệu thiết yếu phục vụ trực tiếp cho việc triển khai tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật trên phạm vi toàn quốc.
Trong giai đoạn tới, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật được định hình là nền tảng tri thức pháp lý số mang tính dẫn dắt, xác định 5 trụ cột chiến lược: (i) Hoàn thiện chu trình số hóa toàn diện vòng đời văn bản pháp luật; (ii) Phát triển hệ sinh thái kết nối và chia sẻ dữ liệu pháp lý liên thông; (iii) Thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích và cảnh báo pháp lý; (iv) Hình thành nền tảng dữ liệu lớn về pháp luật quốc gia; (v) Kiến tạo tri thức pháp luật số phục vụ toàn xã hội.
Từ nền tảng công nghệ được chuẩn hóa, tích hợp trí tuệ nhân tạo và kết nối liên thông, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật đang vượt qua giới hạn của một hệ thống thông tin truyền thống để trở thành hạ tầng tri thức pháp lý số quốc gia, nơi dữ liệu được “kích hoạt”, chuyển hóa thành tri thức, hỗ trợ hành động và tạo lập niềm tin pháp lý cho toàn xã hội.
Từ ngày 23/4/2026, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (phiên bản mới) được vận hành chính thức tại địa chỉ: https://vbpl.vn.
Tại buổi Lễ, các đại biểu đã thực hiện nghi thức bấm nút khai trương Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (phiên bản mới) và Hệ thống thông tin hỗ trợ tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật.
Bộ Nội vụ hướng dẫn làm rõ nội dung được nhiều địa phương quan tâm khi triển khai quy định về vị trí việc làm, đó là việc không xác định và không phê duyệt vị trí việc làm đối với các chức danh cán bộ do bầu cử, phê chuẩn...
Làn sóng ứng dụng AI và chuyển đổi số; lộ trình công nghiệp hóa theo hướng công nghệ cao; nhu cầu phát triển hạ tầng giao thông, hạ tầng năng lượng, là những động lực sẽ thúc đẩy nhu cầu nhân lực STEM tiếp tục duy trì ở mức cao trong ít nhất 3 – 5 năm tới, theo nhận định của chuyên gia…
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh năm học 2026-2027 phải tạo chuyển biến thực chất, lấy kết quả làm thước đo, đồng thời xác định mục tiêu xây dựng nền giáo dục công bằng, chất lượng và trung thực...
Bão đang tiến gần Biển Đông, trong khi Bắc Bộ tiếp tục đối mặt với một đợt mưa lớn kéo dài, làm gia tăng nguy cơ lũ quét, sạt lở đất và ngập úng tại nhiều địa phương. Các cơ quan chức năng đã phát đi cảnh báo, đồng thời triển khai các biện pháp ứng phó nhằm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai...
Dự án được Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ không hoàn lại thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức, với tổng vốn 15 triệu Euro. Thời gian triển khai đến 30/12/2030...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.