Diễn biến xung đột tại Trung Đông tiếp tục tác động sâu rộng tới an ninh năng lượng và vận tải quốc tế, buộc nhiều quốc gia phải điều chỉnh chính sách để chủ động ứng phó.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã linh hoạt thiết lập “vùng đệm” tài khóa và nguồn cung nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. Bộ Công Thương chủ động nâng dự trữ xăng dầu từ 15 lên 26 ngày. Đồng thời, việc đưa một số sắc thuế, phí như thuế bảo vệ môi trường, VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt về mức 0% đã góp phần ổn định tâm lý thị trường, kiểm soát áp lực lạm phát chi phí đẩy, đồng thời duy trì biên lợi nhuận hợp lý cho khu vực sản xuất.
Tuy nhiên, các công cụ như giảm thuế, phí hay sử dụng Quỹ Bình ổn xăng dầu chỉ mang tính ngắn hạn. Theo khuyến nghị của OECD và IMF, việc kéo dài các biện pháp hỗ trợ giá có thể gây áp lực lớn lên ngân sách, làm méo mó tín hiệu thị trường, giảm động lực tiết kiệm năng lượng và cản trở các cải cách mang tính cấu trúc.
Dù đã có hai nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn, Việt Nam hiện mới tự chủ khoảng 70% nhu cầu xăng dầu; 30% còn lại vẫn phụ thuộc nhập khẩu từ ASEAN và Trung Đông, tiềm ẩn nhiều rủi ro trước các cú sốc nguồn cung toàn cầu.
Trong cấu trúc kinh tế toàn cầu mới, năng lượng không còn đơn thuần là đầu vào sản xuất mà đã trở thành nhân tố định hình trật tự địa chính trị. Một quốc gia thiếu tự chủ năng lượng sẽ dễ tổn thương trước các cú sốc nguồn cung. Sự phụ thuộc bên ngoài không chỉ là rủi ro về giá, mà còn là rủi ro về an ninh quốc gia. Vì vậy, trọng tâm chiến lược cần chuyển từ “giảm sốc” sang “nâng cao khả năng chống chịu”, thông qua việc củng cố năng lực nội sinh dựa trên khoa học - công nghệ.
Một minh chứng điển hình cho giá trị của tự chủ công nghệ trong ngành dầu khí là mỏ Đại Hùng. Mỏ được Mobil Oil phát hiện từ năm 1974 và được Petrovietnam xác định lại vào năm 1988. Giai đoạn 1993-1996, tổ hợp nhà thầu quốc tế gồm BHP, Total, Sumitomo, Petronas và PVEP đã đầu tư hơn 400 triệu USD để phát triển mỏ, với BHP là nhà điều hành. Tuy nhiên, do cấu tạo địa chất phức tạp, điều kiện biển sâu khắc nghiệt và hiệu quả tài chính không như kỳ vọng, các đối tác nước ngoài lần lượt rút lui.
Năm 1999, mỏ Đại Hùng được chuyển nhượng lại cho Petrovietnam với mức giá tượng trưng 1 USD. Sau đó, Petrovietnam giao cho Vietsovpetro duy trì khai thác, sửa chữa và thăm dò bổ sung. Đến năm 2003, một bước ngoặt quan trọng được xác lập khi quyền điều hành mỏ được trao cho các đơn vị trong nước.
Từ điểm xuất phát gần như bằng không, đội ngũ kỹ sư dầu khí Việt Nam đã từng bước làm chủ công nghệ, tối ưu quy trình khai thác và nâng cao hệ số thu hồi dầu. Nhiều giải pháp hiện đại được triển khai, từ tối ưu thiết kế giếng khoan, áp dụng các phương pháp gia tăng thu hồi dầu, đến cải tiến hệ thống xử lý và vận chuyển ngoài khơi, từng bước tiệm cận trình độ quốc tế.
Mỏ Đại Hùng đã hồi sinh mạnh mẽ, mang lại doanh thu lũy kế hơn 4 tỷ USD, trở thành biểu tượng cho năng lực làm chủ công nghệ và giá trị của chiến lược phát triển dựa trên nội lực.
Nếu sự hồi sinh của Đại Hùng đầu những năm 2000 là câu chuyện của ý chí, thì Dự án phát triển mỏ Đại Hùng giai đoạn 3 hiện nay được xem là một bước tiến mang tính lịch sử: lần đầu tiên toàn bộ dự án được thiết kế, thi công và vận hành hoàn toàn bằng nguồn lực trong nước. Sức mạnh hệ sinh thái của Petrovietnam được phát huy đồng bộ, với sự phối hợp của các đơn vị chủ lực, trong đó PVEP giữ vai trò điều phối trung tâm.
Dự án bao gồm việc xây dựng, lắp đặt giàn đầu giếng WHP-DH01 ở độ sâu hơn 110 mét nước, kết nối với giàn xử lý trung tâm thông qua hệ thống đường ống mềm dài 5,2 km. Đáng chú ý, toàn bộ quá trình triển khai diễn ra trong điều kiện đặc biệt khắc nghiệt: đại dịch Covid-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng, biến động địa chính trị đẩy chi phí vật tư tăng cao, trong khi công trường nằm ngoài khơi xa, cách bờ tới 265 km.
Việc hoàn thành dự án bằng 100% nhân lực trong nước không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, mà còn đánh dấu bước chuyển quan trọng về năng lực: Việt Nam gia nhập nhóm quốc gia có khả năng tự chủ toàn diện trong thiết kế, thi công và vận hành các công trình dầu khí ở vùng biển sâu, xa bờ.
Thành tựu này không chỉ góp phần gia tăng sản lượng, bù đắp thiếu hụt nguồn cung, mà còn là cột mốc khẳng định năng lực tự chủ, gắn với bảo vệ chủ quyền kinh tế và không gian biển quốc gia bằng các công trình hiện đại.
Trong bối cảnh hiện nay, bài học tự chủ công nghệ từ mỏ Đại Hùng không chỉ giới hạn trong ngành dầu khí, mà còn là hệ quy chiếu quan trọng để Việt Nam bước vào kỷ nguyên năng lượng tái tạo gắn với chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Khi các chính sách hỗ trợ giá xăng dầu ngắn hạn kết thúc, trọng tâm cần chuyển sang tối ưu hóa năng lượng trên toàn hệ thống. Chuyển đổi số đang từng bước nâng cao hiệu quả vận hành, minh bạch hóa quản lý và tăng năng lực dự báo. Petrovietnam đã ứng dụng AI, IoT và dữ liệu lớn để tối ưu chi phí, cải thiện hiệu quả sản xuất - kinh doanh và thích ứng tốt hơn với các biến động toàn cầu.
Đặc biệt, với các ngành tiêu thụ năng lượng lớn như xi măng, thép, hóa chất - chiếm tới 50-60% tổng nhu cầu năng lượng - việc ứng dụng công nghệ mới, phát triển lưới điện thông minh và tự động hóa có thể giúp tiết kiệm 10-20% chi phí. Áp lực giá vì thế cần được chuyển hóa thành động lực để doanh nghiệp tái cấu trúc, đổi mới công nghệ và giảm cường độ năng lượng của nền kinh tế.
Hơn thế, năng lực làm chủ các công trình biển sâu như Đại Hùng là nền tảng quan trọng để Việt Nam triển khai hiệu quả Quy hoạch Điện VIII, đặc biệt trong phát triển điện gió ngoài khơi. Từ khai thác nguồn năng lượng hữu hạn dưới lòng đất, Việt Nam đang từng bước vươn ra biển lớn để đón gió và ánh sáng - những nguồn năng lượng bền vững cho tương lai.
Trong bối cảnh các tiêu chuẩn ESG (môi trường, xã hội và quản trị) và Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon ngày càng khắt khe, một hệ thống năng lượng tự chủ, xanh và công nghệ cao sẽ trở thành “tấm hộ chiếu” giúp Việt Nam thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tự chủ năng lượng, suy cho cùng, không chỉ là câu chuyện của nguồn cung, mà là kết tinh của năng lực khoa học - công nghệ, của tầm nhìn chiến lược và sự kiên trì đầu tư cho nội lực quốc gia.
(*) Viện trưởng Viện Quản trị chính sách và Chiến lược phát triển, chủ nhiệm Đề án Quốc gia Từ chính sách ra cuộc sống.
Nội dung đầy đủ các bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 16-2026 phát hành ngày 20/04/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.html
Sáng 24/10, thảo luận tại Tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, các đại biểu Quốc hội đề nghị cần tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn thủ tục, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước để bảo vệ nhà đầu tư, đồng thời đảm bảo chính sách hỗ trợ chuỗi cung ứng phải mang lại hiệu quả thực tiễn...
AI đang giúp hacker tăng tốc tấn công mạng, nhưng nhiều cuộc xâm nhập vẫn bắt đầu từ việc đánh cắp tài khoản và khai thác quyền truy cập. Kiểm soát danh tính số vì thế trở thành yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp...
Sáng 23/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XVI, tại hội trường Diên Hồng, các đại biểu Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Tài chính, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư...
Nhu cầu nhân lực tại nhiều doanh nghiệp xây dựng tăng mạnh trong khi nguồn cung chưa đáp ứng, từ công nhân kỹ thuật, lái máy đến kỹ sư chuyên sâu về đường sắt, công trình ngầm và công nghệ số...
Bối cảnh tài chính toàn cầu hiện nay đang trải qua những biến chuyển mang tính cấu trúc với sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), đổi mới sáng tạo công nghệ cùng sức ép chuyển đổi bền vững đang đặt thị trường vào những tình thế chưa từng có tiền lệ...
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi) đang được xem xét tại nghị trường Quốc hội. Đại biểu Quốc hội thẳng thắn đề nghị quy định trong Luật phải bảo đảm về giá đất bồi thường và tái định cư. Không để việc đơn giản hóa phương pháp định giá làm giảm mức bảo vệ người có đất bị thu hồi. Dân di dời đi tạm cư thì phải có thời hạn.