Thưa ông, năm 2025, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP 8%, tạo tiền đề cho giai đoạn tăng trưởng cao 2026-2030. Nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam có thể nghiên cứu mô hình tăng trưởng của các quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc để rút tỉa kinh nghiệm. Theo ông, chúng ta có thể học hỏi gì từ họ?
Việt Nam có nhiều nét tương đồng về văn hóa, xã hội với nhiều cường quốc Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và chu kỳ kinh tế của họ đi trước mình khoảng 20 đến 40 năm. Những quốc gia này cũng từng có giai đoạn tăng trưởng kinh tế trên 10%/năm trong hàng chục năm liền.
Có những yếu tố thiên thời, địa lợi để những quốc gia nói trên đạt được tăng trưởng thần kỳ như vậy nhưng tôi muốn đề cập đến hai động lực quan trọng là: cơ cấu dân số vàng giúp tăng mạnh lực lượng lao động, và xu hướng hợp tác phát triển đẩy mạnh toàn cầu hoá sau chiến tranh thế giới thứ 2 tạo cơ hội cho các nền kinh tế mở phát triển nhanh.
Thứ nhất, ở những giai đoạn mà Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc tăng trưởng kinh tế 10-12% thì dân số trong độ tuổi lao động của họ tăng 3-4%/năm. Tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô dân số, việc làm cũng góp phần kích thích tiêu dùng… tất cả hội tụ và cộng hưởng tạo nên giai đoạn tăng trưởng kinh tế rất sống động.
Trong khi đó, Việt Nam đã đi qua 2/3 giai đoạn dân số vàng với lực lượng lao động tăng mạnh trên 2%/năm, kéo dài từ 1990 đến 2010. Lực lượng lao động hiện nay và 10 năm tới chỉ còn tăng khoảng 0.5%/năm và không còn là động lực chính cho tăng trưởng. Chúng ta đang bước dần vào giai đoạn già hoá dân số với tốc độ khá nhanh và tiêu dùng nội địa cũng sẽ khó bứt phá được. Đây sẽ là thách thức lớn đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai là điều kiện từ bên ngoài. Các quốc gia Đông Á kể trên tạo ra được kỳ tích trăng trưởng trong khoảng 30-40 năm bởi sau chiến tranh thế giới thứ 2, xu hướng toàn cầu hoá phát triển mạnh. Khi đó, các quốc gia muốn ngồi lại, hợp tác với nhau để xem ai làm gì sẽ tốt hơn, mỗi quốc gia chia nhau một việc. Xu hướng toàn cầu hoá khiến hiệu suất lao động của toàn thế giới tăng lên, sản xuất hiệu quả hơn, thương mại bùng nổ và đồng thời kích thích tiêu dùng.
Việt Nam cũng đã tận dụng rất tốt những thời cơ từ bên ngoài trong 30 năm vừa qua để mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tham gia WTO để tăng cường thương mại với các quốc gia trên thế giới. Nhờ đó mà Việt Nam ghi nhận tăng trưởng kinh tế trung bình 7%/năm trong một thời gian dài. Tuy nhiên, điều kiện thuận lợi từ bên ngoài này đang thay đổi khi xu hướng bảo hộ ngày càng gia tăng, bắt đầu từ nhiệm kỳ Trump 1.0.
Hiện nay, để tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, Việt Nam cần đi lên tiếp các nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu một cách nhanh và toàn diện. Làm được điều này cần phát huy tối đa tiềm lực của khu vực kinh tế tư nhân và nâng cao vượt bậc năng suất lao động.
Kinh tế tư nhân được đánh giá là một trong những động lực tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Vậy, ông đặt niềm tin vào đội ngũ này như thế nào?
Trải qua hàng chục năm theo dõi các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán, chúng tôi nhận thấy những doanh nghiệp niêm yết có tỷ lệ sở hữu Nhà nước cao thường hiệu quả sử dụng vốn và tốc độ tăng trưởng luôn thấp hơn doanh nghiệp tư nhân.
Các doanh nghiệp có vốn nhà nước thường nắm giữ nhiều nguồn lực đất đai và có vị thế độc quyền nhưng nếu xét về hiệu quả vận hành, kiểm soát chi phí, đổi mới sáng tạo, tận dụng cơ hội thì rất thấp so với các doanh nghiệp tư nhân. Chỉ hơn mười năm trước, các doanh nghiệp lớn đầu ngành đều có gốc Nhà nước. Giờ đây, doanh nghiệp tư nhân đã vươn lên dẫn đầu rất nhiều ngành với sức cạnh tranh tốt không chỉ trong nước mà còn thay thế nhập khẩu và vươn ra thế giới.
Chúng tôi thường xuyên so sánh doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam với các doanh nghiệp cùng ngành ở những nước ASEAN hoặc trên thế giới và nhận thấy có nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam dù không có môi trường kinh doanh quá thuận lợi và nhận được ít sự hỗ trợ về cơ chế, nhưng hiệu quả hoạt động, tốc độ tăng trưởng của họ rất tốt, thậm chí so sánh nhiều tiêu chí tài chính về hiệu quả và tăng trưởng có phần vượt trội mặt bằng khu vực và ngang ngửa với những tập đoàn cùng ngành ở hàng Top trên thế giới.
So với các nước trong khu vực, tôi thấy doanh nhân Việt Nam rất thông minh, năng động và nhạy bén. Chính vì vậy, nếu như Chính phủ có những cơ chế kích hoạt khu vực kinh tế tư nhân thì Việt Nam hoàn toàn có thể đạt mức tăng trưởng cao hơn.
Như vậy, các động lực tăng trưởng của Việt Nam tới đây sẽ là thể chế, kinh tế tư nhân và năng suất lao động phải không, thưa ông?
Trong Kỷ nguyên mới này chúng ta có quyền hy vọng vào động lực thay đổi thể chế mạnh mẽ. Chỉ trong mấy tháng gần đây, chúng ta đã chứng kiến quyết tâm thay đổi rất cao. Mọi thứ diễn ra nhanh chóng và có những chủ trương mang tính đột phá, chưa từng được đề cập tới kể từ khi kinh tế mở cửa. Chẳng hạn như chủ trương về tinh giảm bộ máy, số hóa ứng dụng công nghệ vào quản lý hành chính, xây dựng sàn giao dịch tài sản số, xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, các đặc khu kinh tế….
Đây không đơn thuần là câu chuyện xây dựng những tòa nhà, khu trung tâm, đáp ứng về hạ tầng phần cứng, mà đáng chú ý hơn là cải cách thể chế, tạo dựng hàng lang pháp lý thông thoáng để dòng vốn tự do ra-vào, chú trọng công nghệ, năng suất cao, với những ưu đãi nhiều mặt về thuế, phí, lao động.... Những chủ trương này được hiện thực có thể tạo bước ngoặt kích hoạt dòng vốn đầu tư trong nước cũng như thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Trong ngắn hạn, bất kỳ thay đổi lớn nào cũng đưa đến tác động hai chiều, nhưng tôi tin rằng quá trình cải cách thể chế mạnh mẽ sẽ giúp kinh tế Việt Nam trở nên năng động và dòng vốn lưu chuyển nhanh hơn. Điều quan trọng là định hướng dòng vốn vào các khu vực giúp tăng năng suất và đảm bảo chất lượng tăng trưởng.
Một điều cần lưu ý là bài học từ nhiều quốc gia trên thế giới và cả Việt Nam giai đoạn trước, khi đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công đồng thời nới lỏng tiền tệ sẽ lập tức giúp GDP tăng trưởng nhanh. Hạ tầng phát triển đồng thời dễ kích thích thị trường bất động sản sôi động thu hút dòng vốn đầu cơ từ vay nợ. Tăng trưởng cao theo cách này có thể kéo dài 2-3 năm nhưng thiếu bền vững do tiềm ẩn rủi ro bong bóng tài sản, tạo nên áp lực lạm phát và tỷ giá. Bởi vậy, chất lượng tăng trưởng luôn quan trọng hơn rất nhiều con số tăng trưởng.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8% mà Chính phủ đặt ra cho năm 2025 thì hệ thống ngân hàng phải cung ứng một lượng tín dụng khoảng 2,5 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế, tương ứng tăng trưởng tín dụng 16%. Ông đánh giá thế nào về những thách thức và cơ hội mà các ngân hàng sẽ đối mặt trong năm nay?
Ngành ngân hàng ở các quốc gia đã đi qua chu kỳ kinh tế tương tự Việt Nam như Thái Lan, Malaysia hay Trung Quốc cách đây 15-20 năm, sau giai đoạn kinh tế tăng bùng nổ, tăng trưởng tín dụng đều chậm lại chỉ khoảng 10-12%/năm.
Tăng trưởng tín dụng phải phù hợp với khả năng hấp thụ thể hiện qua tỷ lệ tín dụng trên GDP. Hiện nay, tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam đã tăng cao, ở mức xấp xỉ 140%. Nếu tính cả lượng trái phiếu doanh nghiệp mà các ngân hàng đầu tư thì con số này còn cao hơn nữa. Đây là mức rất cao so với các nước có quy mô kinh tế tương đương hay thậm chí đi trước Việt Nam 15-20 năm.
Cứ 1% tăng trưởng GDP sẽ cần 2% tăng trưởng tín dụng. Dự kiến tăng trưởng tín dụng năm 2025 và các năm tới là 16-20%/năm. Như thế thì tỷ lệ tín dụng trên GDP sẽ bị đẩy lên cao hơn nữa. Đây là bài toán khó mà ngành ngân hàng sẽ phải đối mặt trong những năm tới.
Ở góc độ nhà đầu tư, người quan sát thị trường, tôi cho rằng dư địa để hệ thống ngân hàng tăng trưởng tín dụng không còn quá nhiều. Nhìn lại giai đoạn hạ lãi suất trong Covid-19 (2021 – 2022), chúng ta thấy tăng trưởng tín dụng đạt mức khá cao 15-16%. Năm 2022, các ngân hàng đã dùng hết hạn mức (room tín dụng) ngay nửa đầu năm. Vấn đề nằm ở chỗ hệ thống ngân hàng không huy động được lượng tiền tương ứng với tín dụng mà trong trường hợp lành mạnh đảm bảo an toàn về thanh khoản thì lượng tiền huy động phải bằng hoặc cao hơn cho vay.
Trong năm 2024 vừa qua, hệ thống ngân hàng tiếp tục cho vay cao hơn huy động khoảng 5% khiến hệ số thanh khoản và an toàn vốn của ngân hàng không cải thiện. Chúng ta nhớ lại cuối năm 2022, cú sốc lãi suất từ bên ngoài ập đến khiến tỷ giá tăng vọt kết hợp sự kiện trái phiếu và SCB đã đẩy hệ thống ngân hàng đến khủng hoảng thanh khoản.
Hiện nay, môi trường quốc tế và kinh tế vĩ mô vẫn còn nhiều biến động và tiềm ẩn rủi ro. Bởi thế, nếu hệ thống ngân hàng không đẩy mạnh huy động, hạ tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) thì khó có đủ sự chủ động về thanh khoản để đẩy mạnh tín dụng như kỳ vọng, đồng thời chống chịu các cú sốc bất ngờ (nếu có).
Tuy nhiên, việc giảm tỷ lệ LDR cũng khá thách thức với các ngân hàng trong bối cảnh đồng thời phải duy trì mặt bằng lãi suất thấp trong khi lãi suất trên thế giới đặc biệt là Mỹ vẫn neo cao. Khi mặt bằng lãi suất huy động thấp thì kênh tiết kiệm ngân hàng không còn hấp dẫn với người dân và doanh nghiệp. Dòng tiền sẽ chọn các kênh khác có lợi hơn gửi ngân hàng; ví dụ như mua vàng; mua bất động sản, giữ USD, hay kể cả tiền số.
Chất lượng tăng trưởng tín dụng gắn liền với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Ông nhận định thế nào về vấn đề này?
Chúng tôi đã làm những thống kê liên quan đến nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp niêm yết và cả doanh nghiệp không niêm yết ở các lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ. Kết quả cho thấy nhu cầu vay vốn của nhóm doanh nghiệp này đã có xu hướng giảm liên tục trong khoảng 5-7 năm trở lại đây.
Lý do là những doanh nghiệp tốt trên sàn chứng khoán thuộc các ngành sản xuất, thương mại và dịch vụ đã vươn lên về quy mô và vị thế, có dòng tiền mạnh và tích lũy được lượng vốn tự có đủ để tái đầu tư và tăng trưởng. Tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp này cũng đã chậm lại so với mức trung bình cao của giai đoạn 2005-2015 dẫn đến nhu cầu vay vốn giảm bớt.
Đối chiếu với số liệu tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng thì sẽ thấy tăng trưởng tín dụng cao nhất nằm ở hai lĩnh vực là tiêu dùng và bất động sản (bao gồm cho vay mua nhà và cho chủ đầu tư phát triển dự án).
Tôi cho rằng khả năng hấp thụ vốn của các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, thương mại và dịch có thể vẫn thấp trong thời gian tới vì hai lý do: (1) kinh tế toàn cầu chưa có nhiều khởi sắc; căng thẳng thuế quan có thể khiến dòng chảy thương mại trên thế giới bị gián đoạn; (2) tiêu dùng trong nước phục hồi nhưng ở mức độ chậm khiến doanh nghiệp thận trọng trong việc đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Do đó, nhiều khả năng tín dụng lại chảy vào bất động sản hoặc là các ngành nghề liên quan đến xây lắp hạ tầng.
VnEconomy 18/03/2025 07:00
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 11-2025 phát hành ngày 17/03/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/tap-chi-kinh-te-viet-nam/detail/1308
Luật Công nghiệp công nghệ số đã mở rộng phạm vi nhân lực công nghệ số chất lượng cao, không chỉ bao gồm người Việt Nam (cả trong và ngoài nước) mà còn cả chuyên gia nước ngoài đáp ứng các tiêu chí do Chính phủ Việt Nam quy định. Để thu hút lực lượng này, luật đưa ra hàng loạt chính sách ưu đãi...
Sau nửa thế kỷ phát triển, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM) không chỉ góp phần đưa công nghệ hạt nhân vào y tế, nông nghiệp, công nghiệp và môi trường mà còn đang chuẩn bị nguồn nhân lực, công nghệ và hạ tầng để đồng hành cùng Chương trình điện hạt nhân quốc gia trong giai đoạn mới.
Chỉ còn chưa đầy 6 tháng trước khi Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) được thực thi đầy đủ. Thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở tiêu chuẩn kỹ thuật mà ở tư duy, sự minh bạch và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, việc xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu chính xác là điều kiện tiên quyết để bảo vệ uy tín của ngành cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Nhu cầu nhà ở của đại đa số người dân lao động tại đô thị rất lớn nhưng nguồn cung nhà ở giá phù hợp lại vô cùng hạn chế. Trong khi đó, vẫn có nhiều khu đô thị bị bỏ hoang và hàng ngàn dự án vẫn “đắp chiếu” do vướng mắc pháp lý, tương đương với hàng triệu tỷ đồng đang bị “chôn” vào đất; quy hoạch đất đai cũng còn không ít bất cập; doanh nghiệp bất động sản gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai dự án…
Với tổng vốn đầu tư lũy kế hơn 80 tỷ USD, Nhật Bản không chỉ là đối tác kinh tế hàng đầu mà còn là người bạn đồng hành tin cậy của Việt Nam qua nhiều thập kỷ. Trong bối cảnh Việt Nam đang quyết liệt chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ và chuyển đổi xanh, dư địa hợp tác giữa hai nước đang ngày càng mở rộng, đặc biệt là sau chuyến thăm Việt Nam vào tháng 5/2026 của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Trong lĩnh vực y tế, Việt Nam đã làm chủ công nghệ điều chế các chủng loại đồng vị và dược chất phóng xạ phục vụ y học hạt nhân. Khoa học hạt nhân nước ta đã phát triển các dược chất phóng xạ thế hệ mới để chẩn đoán và điều trị ung thư. Đây là những bước tiến vượt bậc trong nỗ lực đưa năng lượng nguyên tử vào phục vụ dân sinh.