Xin Đại sứ cho biết những kết quả nổi bật nhất trong quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Australia kể từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện?
Tôi rất vui mừng khi thấy quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Australia tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ.
Kim ngạch thương mại hai chiều về hàng hóa và dịch vụ hiện đã đạt 30 tỷ AUD (khoảng 21 tỷ USD), tăng hơn gấp đôi so với năm 2020. Mức tăng trưởng ấn tượng này phản ánh nhiều yếu tố quan trọng. Trước hết, đó là những cơ hội to lớn tại Việt Nam - một trong những nền kinh tế năng động và tăng trưởng nhanh nhất khu vực.
Bên cạnh đó, kết quả này cũng cho thấy tính bổ trợ rất cao giữa hai nền kinh tế. Nhiều mặt hàng Australia xuất khẩu sang Việt Nam là đầu vào quan trọng cho các ngành sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam, qua đó tạo nên mối quan hệ thương mại cùng có lợi.
Mặc dù thương mại song phương đang phát triển rất tích cực, tôi cho rằng vẫn còn nhiều dư địa để mở rộng hợp tác đầu tư. Chính phủ Australia cam kết thúc đẩy đầu tư hai chiều với Việt Nam cũng như khu vực Đông Nam Á nói chung, và đang triển khai nhiều sáng kiến nhằm khuyến khích dòng vốn đầu tư giữa các bên.
Hiện Australia đã có một số khoản đầu tư quan trọng tại Việt Nam. Trong lĩnh vực giáo dục, Đại học RMIT đã hoạt động tại Việt Nam hơn 25 năm với hai cơ sở lớn. Các doanh nghiệp Australia như SunRice cũng đang có những đóng góp đáng kể, đặc biệt tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Chúng tôi tin rằng tiềm năng hợp tác vẫn còn rất lớn và việc gia tăng đầu tư của Australia vào Việt Nam tiếp tục là một trong những ưu tiên hàng đầu của chúng tôi.
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu nhiều biến động, Đại sứ đánh giá như thế nào về vai trò của Việt Nam trong chiến lược đa dạng hóa chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp Australia, đặc biệt là tiềm năng hợp tác nhằm xây dựng chuỗi cung ứng bền vững và có khả năng chống chịu tốt hơn cho cả hai nước?
Tôi cho rằng đa dạng hóa chuỗi cung ứng đã trở thành ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam và Australia. Những gián đoạn trong thời gian qua đã cho thấy rủi ro khi phụ thuộc quá nhiều vào một nhà cung cấp hoặc một thị trường duy nhất. Vì vậy, cả chính phủ và doanh nghiệp đều đang hướng tới xây dựng các chuỗi cung ứng đa dạng hơn, có khả năng chống chịu tốt hơn và bền vững hơn.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam và Australia có nhiều điều kiện thuận lợi để hợp tác. Hai nước đều là thành viên của ba hiệp định thương mại tự do quan trọng trong khu vực, gồm Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Australia - New Zealand (AANZFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Các hiệp định này thiết lập những quy tắc và quy trình chung trong khu vực, qua đó góp phần tăng cường sự liên kết giữa hai nền kinh tế.
Tôi tin rằng trong những năm tới, Việt Nam và Australia sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ trong quá trình đa dạng hóa chuỗi cung ứng.
Việt Nam cần tiếp tục cải thiện những yếu tố nào để thu hút nhiều hơn dòng vốn đầu tư chất lượng cao từ Australia?
Trước hết, tôi xin chúc mừng Việt Nam về những thành tựu tăng trưởng kinh tế ấn tượng và bền vững. Như tôi đã đề cập, trong năm nay, Việt Nam đã đạt được nhiều dấu mốc quan trọng. Việc thị trường chứng khoán được FTSE nâng hạng là một bước tiến đáng kể. Ngân hàng Thế giới cũng đã công nhận Việt Nam đạt ngưỡng quốc gia có thu nhập trung bình cao sớm hơn dự kiến. Những kết quả này cho thấy quỹ đạo tăng trưởng rất tích cực của Việt Nam và khiến Việt Nam trở thành điểm đến ngày càng hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Chính phủ Việt Nam đang tập trung thu hút đúng những dòng vốn đầu tư chất lượng, và chúng tôi tin rằng Australia là một đối tác phù hợp cho các khoản đầu tư dài hạn và bền vững. Theo tôi, có ba yếu tố quan trọng mà các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm.
Thứ nhất, và cũng là yếu tố quan trọng nhất, là sự ổn định và minh bạch của môi trường pháp lý. Các nhà đầu tư dài hạn luôn mong muốn có một hệ thống quy định rõ ràng, được thực thi nhất quán và minh bạch. Tôi biết đây cũng là lĩnh vực mà Chính phủ Việt Nam đang đặc biệt chú trọng.
Thứ hai là hạ tầng. Hạ tầng chất lượng cao về giao thông, năng lượng và hạ tầng số đều đóng vai trò thiết yếu trong việc thu hút đầu tư. Việt Nam hiện đang ưu tiên phát triển các lĩnh vực này và đây vẫn sẽ là những yếu tố quan trọng trong quyết định của các nhà đầu tư.
Thứ ba là nguồn nhân lực có kỹ năng. Đây cũng là ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam. Australia có thể đóng góp tích cực trong lĩnh vực này thông qua quan hệ hợp tác giáo dục chặt chẽ giữa hai nước.
Tôi tin rằng đây là những yếu tố then chốt sẽ tác động đến quyết định đầu tư, không chỉ của các doanh nghiệp Australia mà còn của các nhà đầu tư quốc tế nói chung.
Theo Đại sứ, đâu sẽ là những lĩnh vực hợp tác thương mại và đầu tư có tiềm năng tăng trưởng mạnh nhất giữa Việt Nam và Australia trong thời gian tới?
Có nhiều lĩnh vực có tiềm năng lớn để thúc đẩy hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Australia trong thời gian tới, đặc biệt khi Việt Nam đang tiếp tục quá trình chuyển đổi kinh tế với trọng tâm là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Một trong những lĩnh vực nổi bật là chuyển dịch năng lượng xanh. Quá trình này đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam. Năng lượng từ lâu đã là một trụ cột trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Australia, và hiện Australia là nhà cung cấp than lớn nhất cho Việt Nam xét theo giá trị.
Đồng thời, cả hai quốc gia đều đang hướng tới một tương lai năng lượng xanh hơn. Các lĩnh vực như lưu trữ năng lượng bằng pin, điện mặt trời và điện gió là những lĩnh vực Australia đang tham gia tích cực và chúng tôi nhìn thấy nhiều cơ hội để hợp tác sâu rộng hơn với Việt Nam. Tôi tin rằng đây là lĩnh vực hai nước có thể phối hợp chặt chẽ nhờ những thế mạnh mang tính bổ trợ cho nhau.
Bên cạnh đó, tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, dù nông nghiệp và giáo dục là những lĩnh vực hợp tác truyền thống, nhưng chúng vẫn giữ vai trò rất quan trọng và đang không ngừng đổi mới.
Giáo dục từ lâu đã là một trong những trụ cột của quan hệ song phương và sẽ tiếp tục là lĩnh vực hợp tác quan trọng. Trong bối cảnh phát triển nguồn nhân lực và nâng cao kỹ năng ngày càng trở nên cấp thiết, Australia có thể đóng góp đáng kể trong việc hỗ trợ Việt Nam đào tạo lực lượng lao động chất lượng cao.
Nông nghiệp cũng là lĩnh vực có nhiều tiềm năng. Đây là lĩnh vực hợp tác lâu đời giữa hai nước và cả Australia lẫn Việt Nam đều là những quốc gia sản xuất và xuất khẩu nông sản hàng đầu. Chúng tôi cho rằng đây là lĩnh vực cần tiếp tục được thúc đẩy trong thời gian tới.
Một trong những ví dụ đáng chú ý nhất là hợp tác thông qua SunRice. Australia đang triển khai chương trình hợp tác nông nghiệp rất tích cực với Việt Nam, trong đó có các nỗ lực phát triển các giống lúa thích ứng với biến đổi khí hậu, sử dụng ít nước hơn và tạo ra lượng phát thải thấp hơn. Điều đó cho thấy, dù nông nghiệp là lĩnh vực hợp tác truyền thống, nhưng vẫn đang không ngừng thích ứng để đáp ứng những yêu cầu và thách thức mới.
Tôi cũng muốn nhấn mạnh đến khoáng sản quan trọng và đất hiếm, những lĩnh vực đang ngày càng có ý nghĩa đối với nền kinh tế toàn cầu.
Nhìn chung, tất cả các lĩnh vực này đều gắn với định hướng phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây chính là những động lực của nền kinh tế hiện đại và tôi tin rằng sẽ mở ra nhiều cơ hội để Việt Nam và Australia tăng cường hợp tác sâu rộng hơn. Tôi muốn nhấn mạnh rằng thế mạnh bổ trợ giữa hai nước sẽ tạo nền tảng vững chắc cho sự hợp tác trong các lĩnh vực này.
Về dài hạn, Đại sứ kỳ vọng quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Australia sẽ phát triển theo hướng nào? Theo đó, Đại sứ quán Australia sẽ triển khai những sáng kiến gì để tăng cường kết nối cộng đồng doanh nghiệp hai nước, qua đó hiện thực hóa các mục tiêu của Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện?
Trong dài hạn, tôi kỳ vọng quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Australia sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ. Tôi cũng mong muốn chứng kiến dòng vốn đầu tư hai chiều phát triển mạnh hơn, với nhiều doanh nghiệp Australia đầu tư vào Việt Nam và nhiều doanh nghiệp Việt Nam mở rộng đầu tư sang Australia.
Không chỉ dừng lại ở thương mại truyền thống, tôi mong muốn doanh nghiệp hai nước sẽ kết nối chặt chẽ hơn thông qua việc xây dựng các chuỗi cung ứng gắn kết hơn và thiết lập những quan hệ đối tác dài hạn vững chắc, đặc biệt trong các lĩnh vực mới mà tôi đã đề cập. Tôi tin rằng dư địa hợp tác trong các lĩnh vực này còn rất lớn.
Từ góc độ Chính phủ Australia cũng như Đại sứ quán, một trong những vai trò quan trọng của chúng tôi là làm cầu nối, hay như chúng tôi thường gọi là “matchmaking” – kết nối các doanh nghiệp và nhà đầu tư mà chúng tôi tin rằng có thể trở thành đối tác phù hợp của nhau. Chúng tôi thường xuyên tổ chức các đoàn doanh nghiệp, đoàn xúc tiến đầu tư, giới thiệu những thế mạnh của Australia, đồng thời giúp các nhà đầu tư Australia hiểu rõ hơn về những cơ hội đang mở ra tại Việt Nam.
Chúng tôi cũng vừa có Doanh nhân Tiên phong mới của Australia tại Việt Nam mới là bà Peggy O’Neal, người vừa được Chính phủ Australia bổ nhiệm và hiện cũng là Chủ tịch Hội đồng Đại học RMIT. Bà sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kết nối giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước.
Bên cạnh đó, chúng tôi đang nỗ lực thu hút các nhà đầu tư lớn. Australia sở hữu một trong những hệ thống quỹ hưu trí được quản lý lớn nhất thế giới, và chúng tôi mong muốn khuyến khích các nhà đầu tư này tìm hiểu những cơ hội tại Việt Nam, trong đó có tiềm năng mà Trung tâm Tài chính Quốc tế có thể mang lại.
Trong bối cảnh yêu cầu tăng trưởng cao và hội nhập sâu rộng, Quốc hội đang xem xét sửa đổi đồng bộ ba luật quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao an toàn hệ thống. Các đại biểu đề xuất làm rõ các quy định về quản lý ngoại hối, bảo mật dữ liệu và phòng, chống rửa tiền để nâng cao hiệu quả thực thi…
Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 6/8, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng...
Hạ tầng phải được đánh giá bằng hiệu quả người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế nhận được; đồng thời trở thành ngành kinh tế chiến lược, tạo thị trường lớn để phát triển năng lực sản xuất, công nghệ trong nước.
Dự thảo Nghị quyết hướng tới xây dựng hệ thống chỉ tiêu thực chất, khả thi, làm cơ sở để Quốc hội giám sát, đánh giá khách quan hoạt động của các cơ quan tư pháp, đồng thời tăng cường trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực.
Hai địa phương Quảng Ninh và Bắc Ninh đều đáp ứng đầy đủ 7 tiêu chuẩn, 5 điều kiện để thành lập thành phố trực thuộc Trung ương. Các nghị quyết dự kiến lần lượt có hiệu lực từ ngày 1/9 và 20/9/2026.
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Thị trường xuất khẩu 7 tháng qua ghi nhận hàng loạt mặt hàng bị sụt giảm như gạo, cà phê, sầu riêng… Chỉ còn chưa đầy 5 tháng để đạt được mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Chính phủ giao là 72,4 tỷ USD và phấn đấu vượt mốc 74 tỷ USD, hàng loạt các giải pháp chiến lược cần được gấp rút triển khai một cách đồng bộ, thực tế và hiệu quả.