Theo khảo sát 537 doanh nghiệp trong lĩnh vực công thương, xây dựng, xử lý chất thải và giao thông trên cả nước, có phát thải ước tính trên 10.000 tấn CO2 tương đương của Công ty cổ phần Tư vấn năng lượng và môi trường (VNEEC), số doanh nghiệp đã thực hiện kiểm khí nhà kính mới chiếm trên 35%, 57,38% doanh nghiệp đang chuẩn bị xây dựng kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính, gần 28% đã có kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính.
Điều đáng nói, trên 50% doanh nghiệp có nghe qua về Hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải (ETS) và thị trường carbon nhưng không biết về nguyên tắc hoạt động cơ bản; một số ít không biết về ETS và thị trường carbon; chỉ có 1,27% doanh nghiệp hiểu cách ETS và thị trường carbon hoạt động.
Bà Đặng Hồng Hạnh, Trưởng nhóm, Chuyên gia về chính sách biến đổi khí hậu, Đồng sáng lập VNEEC, cho biết thị trường carbon Việt Nam đã được quy định trong các văn bản pháp lý, như: Luật Bảo vệ môi trường 2020 đưa ra khung pháp lý cơ bản cho việc hình thành thị trường carbon và Nghị định số 06/2022/NĐ-CP Quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-zôn (năm 2022), Quy định chi tiết Điều 91 “Giảm phát thải khí nhà kính, và Điều 139 “Hình thành và phát triển thị trường carbon” của Luật Bảo vệ môi trường 2020.
Ngoài ra, Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg Ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (năm 2022), danh sách đối tượng tham gia vào thị trường carbon theo Điều 5 khoản 1 của Nghị định số 06, Quyết định này sẽ được cập nhật 2 năm một lần. Hiện nay, danh sách có 1.912 doanh nghiệp có nghĩa vụ phải báo cáo về kiểm kê khí nhà kính, nhưng sang năm 2024 lên gần 3.000 cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính.
Chúng ta cũng đã có những công cụ quản lý giảm phát thải khí nhà kính là công cụ định giá carbon ETS thí điểm 2025 – 2027 và cơ chế tín chỉ, thí điểm 2025 - 2027) và công cụ phi thị trường (quy định kiểm soát phát thải trực tiếp; hỗ trợ công nghệ, tài chính, tăng cường năng lực).
Theo quy định, lộ trình phát triển thị trường carbon tại Việt Nam: từ 2021-2024 là giai đoạn chuẩn bị, 2025-2027 là thực hiện thí điểm – thành lập và tổ chức vận hành thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon, từ năm 2028 sẽ vận hành đầy đủ thị trường carbon.
Ba đối tượng chính tham gia thị trường carbon ở Việt Nam là: (i) tổ chức tham gia thực hiện cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong nước (tự nguyện); (ii) cơ sở phát thải khí nhà kính phải kiểm kê khí nhà kính, như: nhà máy nhiệt điện, cơ sở sản xuất công nghiệp, công ty vận tải hàng hóa, tòa nhà thương mại… có tổng lượng tiêu thụ năng lượng hàng năm từ 1.000 tấn dầu tương đương trở lên, cơ sở xử lý chất thải rắn công suất từ 65 ngàn tấn trở lên; (iii) tổ chức cá nhân khác liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh hạn ngạch phát thải khí nhà kính.
Để thực hiện hiệu quả và đúng lộ trình, bà Đặng Hồng Hạnh đề xuất: năm 2024 lựa chọn phương án cho giai đoạn thí điểm và thiết kế ETS, đồng thời ban hành các văn bản pháp luật cho giai đoạn thí điểm và thiết kế ETS đầy đủ, trong đó bao gồm xác định hạn mức và phân bổ hạn ngạch phát thải.
Sang năm 2025, thực hiện hoạt động thí điểm, chuẩn bị các thiết kế cho ETS đầy đủ; ban hành bổ sung các văn bản pháp luật cho giai đoạn thí điểm và thiết kế ETS đầy đủ. Năm 2026-2027, thực hiện hoạt động thí điểm, chuẩn bị các thiết kế cho ETS đầy đủ; ban hành bổ sung các văn bản pháp luật cho giai đoạn thí điểm và thiết kế ETS đầy đủ. Năm 2028, vận hành ETS đầy đủ.
Để thành công, theo bà Hạnh, điều quan trọng là cơ sở dữ liệu quốc gia phải bao gồm dữ liệu kiểm kê của các cấp - chỉ khi có được những dữ liệu này chúng ta mới phân bổ được hạn ngạch. Hiện nay trong Nghị định 06 quy định phương pháp phân bổ hạn ngạch dựa trên phát thải trung bình của ngành, nhưng khi tham vấn ngành thép của Hàn Quốc hay EU, họ mất 7 năm để ra được dữ liệu kiểm kê của ngành thép.
Vì thế, các chuyên gia khuyến nghị trước tiên nên áp dụng dữ liệu lịch sử cho giai đoạn thí điểm; đồng thời, xác định đúng quy trình phân bổ hạn ngạch. Theo bà Hạnh, cơ sở dữ liệu phát thải khí nhà kính của 3 cấp (doanh nghiệp, địa phương, bộ ngành) đóng vai trò vô cùng quan trọng, vì nếu không biết ngành của chúng ta ở đâu thì không thể phân bổ hạn ngạch chính xác cho doanh nghiệp, không có cơ sở để phân bổ cho doanh nghiệp.
Liên quan tới việc điều phối hoạt động và ổn định thị trường carbon, bà Hạnh cho rằng cần xác định biện pháp can thiệp điều phối ổn định thị trường là gì, tình huống nào sẽ có can thiệp? Như Hàn Quốc ban đầu không can thiệp, nhưng khi mức giá cao hoặc thấp quá trong quá trình vận hành thị trường bắt buộc phải can thiệp bằng việc điều chỉnh chính sách.
Nhóm tư vấn VNEEC cho rằng thời gian từ nay đến thí điểm (năm 2025) rất ngắn, trong khi các nước có thời gian thí điểm từ 3-6 năm. Vì vậy, đòi hỏi quyết tâm chính trị của Chính phủ Việt Nam, cần các văn bản chi tiết hơn nữa cũng như sự tham gia tích cực của nhiều bên. Chúng ta cần làm song song nhiều nhiệm vụ và chọn lựa quy mô thí điểm phù hợp. Đặc biệt, vấn đề ETS có rất nhiều yêu cầu kỹ thuật và quản trị mới, vì thế cần đào tạo nguồn lực và ban hành nhiều văn bản pháp quy, các hướng dẫn thực hiện trong năm 2024, đây là nhiệm vụ rất nặng nề.
Đối với ETS, thách thức nhất là khó vận hành khi chưa có đủ cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp phát thải lớn (hạn báo cáo lần đầu tháng 3/2025). “Chúng ta cần thí điểm ở quy mô khả thi nhất, như Thái Lan bắt đầu với 7 doanh nghiệp, Indonesia với 32 doanh nghiệp, trong đó 75% là doanh nghiệp trong lĩnh vực điện năng”, bà Hạnh gợi ý; đồng thời, bà nhấn mạnh, thị trường carbon biến động rất lớn, vì vậy cần chính sách linh hoạt, điều chỉnh liên tục.
Nhìn dưới góc độ doanh nghiệp, ông Björn Fondén, Hiệp hội Giao dịch phát thải quốc tế (IETA), cho rằng lợi ích với doanh nghiệp là: được tham gia vào thị trường carbon trong nước và quốc tế, có thể mang lại doanh thu bổ sung; giúp thu hút nguồn vốn đầu tư xanh, nâng vị thế cạnh tranh từ hoạt động sáng tạo sản phẩm công nghệ tiên tiến...; tăng khả năng đổi mới công nghệ, thâm nhập thị trường mới; giảm rủi ro tài chính và hoạt động sản xuất – kinh doanh…
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 11-2024 phát hành ngày 11/03/2024. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.