
Phát biểu tại phiên giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn 2011-2016, đại biểu Hoàng Văn Cường (Hà Nội) nhấn mạnh một điều mà theo ông là "kỳ lạ"
Đó là "tất cả những vấn đề xảy ra về thất thoát, lỗ của doanh nghiệp Nhà nước thì ai cũng biết. Tuy nhiên, chúng ta có cả một bộ máy về thanh tra, kiểm tra, kiểm soát nhưng lại không phát hiện ra những vấn đề này. Rõ ràng ở đây về mặt chính sách, pháp luật, chúng ta phải xem đến lỗ hổng trong việc quy định trách nhiệm của cơ quan có trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động của doanh nghiệp", ông Cường nói.
Chưa ai mất chức vì thua lỗ
Với phạm vi thời gian chỉ được 7 phút, đại biểu Cường tập trung phát biểu về ba dạng làm thất thoát tài sản nhà nước.
Đó là kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến lỗ, làm mất vốn. Mua bán tài sản làm thất thoát tài sản và tiền vốn. Định giá doanh nghiệp thấp khi cổ phần hóa.
Về kinh doanh lỗ làm thất thoát vốn của doanh nghiệp, đại biểu Cường nêu ba lý do.
Thứ nhất, trình độ quản lý của doanh nghiệp yếu kém dẫn đến kinh doanh không hiệu quả.
Thứ hai, mang tính chủ quan hơn, vì động cơ cá nhân, những người quản lý đã đầu tư những hoạt động không hiệu quả nhằm thu lợi ích cá nhân như đầu tư máy móc, thiết bị không phù hợp nhưng lại hưởng lợi từ đấy. Đầu tư vào lĩnh vực không hiệu quả nhưng được chia phần từ những lĩnh vực đầu tư này. Hoặc cố tình tính giá trị đầu tư lớn hơn để hưởng những lợi ích, phần trăm từ đó.
Tóm lại, đây là những hoạt động cố tình dùng những thủ đoạn để hợp pháp hóa việc rút tiền từ các doanh nghiệp nhà nước, đại biểu nhấn mạnh.
Thứ ba, dù doanh nghiệp lỗ nhưng không ai phải chịu trách nhiệm, chưa có ai bị mất chức hay xử lý đi tù vì chuyện quản lý yếu kém để doanh nghiệp lỗ.
Thậm chí có doanh nghiệp khi cần báo cáo để tăng chức, tăng quỹ lương hoặc để xin vốn thì ngay lập tức sẽ có báo cáo lãi, khi báo cáo cho cơ quan tài chính để nộp thuế thì lại có một báo cáo lỗ, ông Cường nhấn mạnh.
"Người ta nói rằng, báo cáo tài chính của các doanh nghiệp như có phép thần thông biến hóa giữa lỗ và lãi. Những doanh nghiệp lỗ, nhưng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp vẫn được hưởng mức lương cao chứ không phải thấp vì cơ chế trả lương cho các doanh nghiệp là khi doanh nghiệp làm ăn có lãi thì được xác định mức lương theo mức lãi, nhưng khi lỗ thì không được tăng lương nhưng không bị giảm mức lương này xuống. Chính vì yếu tố trên nên đây là một động lực lôi kéo những người quản lý doanh nghiệp không muốn cổ phần hóa những doanh nghiệp Nhà nước", đại biểu Cường nói.
Lẽ ra dẫn dắt thì lại khoá đuôi
Lẽ ra phải đóng vai trò dẫn dắt trong nền kinh tế, nhưng các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp Nhà nước lại đang ở vị trí khóa đuôi.
Đó là thực trạng đáng buồn, theo nhận xét của Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc tại phiên giám sát.
Chứng minh nhận định trên, ông Lộc nói hệ số ICOR của khu vực doanh nghiệp Nhà nước luôn cao hơn nhiều so với các thành phần kinh tế khác.
Năm 2016 các doanh nghiệp Nhà nước phải bỏ ra gần 10 đồng vốn đầu tư mới thu được 1 đồng tăng trưởng, cao gấp gần 2 lần so với mức chỉ trên 5 đồng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và cao gấp hơn 1,5 lần so với mức trên 6 đồng của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước.
Hơn nữa, mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu và tài sản tại các doanh nghiệp Nhà nước không chỉ ở mức thấp, mà còn có xu hướng giảm liên tục theo thời gian, từ 16,4% và 6,5% năm 2012 xuống còn 10% và 4,6% năm 2016.
Ngân sách Nhà nước cũng đã nhiều năm thất thu với thành phần kinh tế nhà nước, tốc độ tăng thu chỉ đạt mức trung bình 3%/năm trong giai đoạn 2011-2016, Chủ tịch VCCI nói tiếp.
Đại biểu Vũ Tiến Lộc cũng nhấn mạnh điểm rất cần lưu ý là xu hướng sụt giảm hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp Nhà nước nêu trên lại diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế đang trên đà phục hồi, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, tức là nó diễn ra ngược chiều với xu thế chung.
"Điều này cho thấy, những yếu kém của khu vực doanh nghiệp nhà nước chủ yếu là vấn đề nội tại của khu vực này, chứ không phải do những tác động từ môi trường bên ngoài", ông Lộc đánh giá.
Nguyên nhân gốc rễ dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp tại các doanh nghiệp nhà nước, theo Chủ tịch VCCI nằm ở vấn đề sở hữu và động lực phát triển của doanh nghiệp.
Bởi vậy, nếu tỷ trọng sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp vẫn được duy trì ở mức cao áp đảo thì những nỗ lực cải cách khác nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước như hoàn thiện hệ thống pháp lý cho bớt chồng chéo, tăng tính chủ động của doanh nghiệp, xác lập các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, hay tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra cũng sẽ không có nhiều ý nghĩa và không thể đem lại những kết quả như mong muốn.



Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đề nghị thúc đẩy quan hệ đầu tư Việt Nam - Nhật Bản chuyển mạnh từ quan hệ giữa “nhà đầu tư và địa điểm đầu tư” sang quan hệ đối tác cùng phát triển và kiến tạo, cùng nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam và Myanmar thống nhất tăng cường kết nối, bổ trợ giữa hai nền kinh tế, mở rộng hợp tác trong thương mại, đầu tư, chuyển đổi số, nông nghiệp, logistics và công nghệ cao, tạo thêm dư địa cho cộng đồng doanh nghiệp hai nước.
Ngày 5/9, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã hội kiến Tổng thống Cộng hòa Liên bang Myanmar Min Aung Hlaing đang thăm chính thức Việt Nam.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Myanmar Min Aung Hlaing khẳng định quyết tâm làm sâu sắc quan hệ hữu nghị truyền thống, thúc đẩy hợp tác kinh tế, đầu tư, kết nối doanh nghiệp và giao lưu văn hóa giữa hai nước.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Tổng thống Myanmar Min Aung Hlaing nhất trí tăng cường tin cậy chính trị, đưa hợp tác quốc phòng, an ninh trở thành một trụ cột của hợp tác song phương, đồng thời thúc đẩy thương mại, đầu tư và sớm khôi phục đường bay thẳng giữa hai nước.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.