Tại Chương trình Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV vào ngày
3/12, Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn đã trình bày tờ trình về chủ
trương đầu tư Dự án cao tốc Vinh – Thanh Thủy.
Theo Phó Thủ tướng, dự án được xem là mắt xích quan trọng
trong mạng lưới giao thông quốc gia, tạo động lực mới cho phát triển vùng Bắc
Trung Bộ và tăng cường giao thương giữa Việt Nam với Lào và khu vực.
ĐÁP ỨNG NHIỀU MỤC
TIÊU VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ QUAN TRỌNG
Dự án cao tốc Vinh – Thanh Thủy có điểm đầu kết nối với tuyến
cao tốc Bắc – Nam phía Đông tại Nghệ An và điểm cuối dẫn vào Khu kinh tế cửa khẩu
Thanh Thủy, với tổng chiều dài khoảng 60 km.
Dự án được đề xuất đầu tư quy mô 4
làn xe; riêng các đoạn đào sâu, đắp cao, cầu và hầm trên tuyến sẽ xây dựng nền
đường theo tiêu chuẩn 6 làn xe. Công tác giải phóng mặt bằng được thực hiện
theo quy mô 6 làn, đáp ứng tiêu chuẩn cao tốc với vận tốc thiết kế 80–100 km/giờ.
Dự án được đầu tư theo hình thức đầu tư công. Sơ bộ tổng mức
đầu tư khoảng 23.940,34 tỷ đồng sử dụng ngân sách nhà nước bố trí từ nguồn
tăng thu ngân sách trung ương năm 2024; ngân sách trung ương và ngân sách địa
phương giai đoạn 2026 – 2030.
Dự án sẽ được thực hiện vào năm 2026, hoàn thành công
trình đưa vào vận hành, khai thác trong năm 2029. Chính phủ đề xuất được áp dụng
3 cơ chế, chính sách đặc biệt với dự án bao gồm các chính sách về: Thẩm định khả
năng cân đối vốn cho dự án; Về chỉ định thầu; Về bãi đổ chất thải rắn xây dựng
và tầng đất mặt của đất chuyên trồng lúa nước.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh việc xây dựng cao tốc Vinh – Thanh Thủy mang nhiều
ý nghĩa quan trọng:
Về mục tiêu đầu tư, Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn cũng nhấn mạnh
yêu cầu hình thành trục ngang Đông – Tây, kết nối đồng bộ với các trục dọc như
cao tốc Bắc – Nam phía Đông, đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 1 và tuyến ven biển.
Dự án sẽ đáp ứng nhu cầu vận tải, mở rộng không gian và tạo
động lực phát triển vùng dựa trên hệ thống hạ tầng kỹ thuật – xã hội hiện đại;
kết nối Thủ đô Viêng Chăn (Lào) với Thủ đô Hà Nội và các trung tâm kinh tế, cảng
biển; nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy liên kết vùng và hợp tác phát triển.
Đồng thời, dự án cũng góp phần bảo đảm quốc phòng – an ninh, xóa đói giảm
nghèo, phù hợp với mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các Nghị
quyết của Bộ Chính trị.
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG
ÁN TỐI ƯU TRIỂN KHAI XÂY DỰNG DỰ ÁN
Trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi khẳng định hồ sơ do Chính phủ trình đã cơ bản đáp ứng quy định tại Điều 21
của Luật Đầu tư công đối với dự án quan trọng quốc gia. Việc Chính phủ trình Quốc
hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư dự án là hoàn toàn phù hợp với quy định
pháp luật.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính thống nhất với sự cần thiết đầu
tư dự án như nêu trong Tờ trình của Chính phủ, nhằm cụ thể hóa mục tiêu phát
triển hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy liên kết vùng, hội
nhập kinh tế quốc tế và bảo đảm quốc phòng – an ninh khu vực biên giới. Một số
ý kiến đề nghị cần làm rõ thêm nhu cầu vận tải trên hành lang kinh tế Đông –
Tây và tuyến Vinh – Thanh Thủy theo từng giai đoạn, để nhấn mạnh tính cấp bách
của dự án.
Về sự phù hợp với quy hoạch và phương án thiết kế sơ bộ, Ủy
ban nhận định dự án cơ bản phù hợp với các quy hoạch liên quan. Tuy vậy, cơ
quan chủ trì cần tiếp tục nghiên cứu để lựa chọn phương án tuyến tối ưu, bảo đảm
kết nối hiệu quả với cảng biển, cảng hàng không, khu công nghiệp, khu du lịch
và các trung tâm logistics.
Đồng thời, cần đầu tư đồng bộ hệ thống trạm dừng
nghỉ, giao thông thông minh, nút giao và các công trình phụ trợ để nâng cao hiệu
quả khai thác.
Một số ý kiến cũng đề nghị làm rõ tiến độ đầu tư của phía
Lào từ cửa khẩu Thanh Thủy đến Viêng Chăn nhằm bảo đảm khai thác đồng bộ toàn
tuyến. Đối với tổng mức đầu tư và nguồn vốn, Ủy ban đề nghị Chính phủ làm rõ cơ
sở tính toán, so sánh với các dự án tương tự; đồng thời bổ sung thông tin về thẩm
định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn.
Về các cơ chế, chính sách đặc thù, Chính phủ đề xuất ba nhóm
cơ chế đặc biệt cho dự án. Theo Ủy ban Kinh tế và Tài chính, đây là những cơ chế
đã từng được Quốc hội cho phép áp dụng đối với một số dự án quan trọng quốc
gia, vì vậy đề xuất của Chính phủ là có cơ sở. Ủy ban cũng đề nghị Chính phủ sớm
báo cáo cấp có thẩm quyền theo Quy chế 01-QC/TW để xin ý kiến chỉ đạo về việc
triển khai đầu tư dự án.