Thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm hỗ trợ và phát triển thị trường lao động. Đây là nhóm chính sách nhằm hỗ trợ cho người lao động, chủ sử dụng lao động để bảo vệ, duy trì việc làm; ngăn ngừa, hạn chế sa thải lao động dẫn đến thất nghiệp.
Đánh giá về việc thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong những năm qua, PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học, Lao động và Xã hội (thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũ), cho rằng bảo hiểm thất nghiệp không chỉ là “phao cứu sinh” của người lao động, mà còn tác động tích cực đến doanh nghiệp và thị trường lao động.
Chính sách này góp phần giảm chi phí cho doanh nghiệp, hỗ trợ tuyển dụng lại lao động đã qua đào tạo, tạo điều kiện cho việc tái cấu trúc sản xuất. Bảo hiểm thất nghiệp còn hạn chế làn sóng thất nghiệp, thúc đẩy người lao động bồi dưỡng kỹ năng, đồng thời cung cấp thông tin minh bạch hơn về thị trường thông qua các trung tâm dịch vụ việc làm.
Sau nhiều năm triển khai, bảo hiểm thất nghiệp đã trở thành một chính sách an sinh xã hội quan trọng, giúp người lao động vượt qua khó khăn trong giai đoạn mất việc, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp duy trì nguồn nhân lực và thị trường lao động trở nên ổn định hơn.
Tuy nhiên, theo bà Hương, một thực tế cần xem xét là hiện số lao động phi chính thức dù chiếm hơn 60% lực lượng lao động trên thị trường, song vẫn chưa có cơ hội tiếp cận chính sách này. Đáng chú ý, 1/3 trong số họ lại không tham gia bất kỳ chính sách an sinh xã hội nào.
Với lao động phi chính thức, công việc của họ thường không ổn định, thu nhập bấp bênh, quan hệ lao động lỏng lẻo. Khi công nghệ phát triển, mối quan hệ lao động ngày càng linh hoạt và biến động. Dù nhóm này có khả năng và ý thức tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhưng còn thiếu cơ hội tiếp cận.
“Nếu mở rộng được đối tượng tham gia sang khu vực phi chính thức, chính sách bảo hiểm thất nghiệp sẽ đạt được lợi ích kép, khi vừa bảo vệ nhóm lao động yếu thế, vừa giảm tỷ lệ lao động phi chính thức và tăng tỷ lệ tham gia bảo hiểm thất nghiệp”, bà Hương nhấn mạnh.
Tuy nhiên, vị chuyên gia cho rằng cần có lộ trình triển khai phù hợp, đáp ứng nhu cầu của người lao động. Có thể xem xét đến các nhóm giải pháp như tăng cường năng lực của các trung tâm dịch vụ việc làm; xây dựng cơ sở dữ liệu số cập nhật liên tục về thị trường lao động; phát triển hạ tầng về dịch vụ việc làm…
Khi có dữ liệu minh bạch, hệ thống kết nối mạnh, cơ quan quản lý không chỉ dễ dàng theo dõi thị trường, triển khai chính sách hợp lý, mà người lao động cũng có thêm nhiều cơ hội tiếp cận với hệ thống an sinh xã hội.
Về khung chính sách, Luật Việc làm (sửa đổi) năm 2025 cũng có nhiều điểm mới liên quan đến nội dung bảo hiểm thất nghiệp, như mở rộng đối tượng tham gia, nới điều kiện hưởng, bổ sung thêm các chế độ hỗ trợ tiền ăn khi học nghề… Tất cả những điều này sẽ góp phần khẳng định tính nhân văn trong chính sách, khuyến khích người lao động tham gia.
Thực hiện tốt hơn chính sách bảo hiểm thất nghiệp, chuyên gia cho rằng cần tính đến các giải pháp phù hợp với thực tiễn. Đơn cử, các trung tâm dịch vụ việc làm cần được xem là đơn vị sự nghiệp có đủ nguồn lực, quyền hạn để làm tốt cả 3 nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu việc làm; cung cấp thông tin thị trường lao động; hỗ trợ đào tạo nghề.
Ngoài ra, để người lao động tiếp cận và hiểu rõ chính sách về bảo hiểm thất nghiệp, cần tăng cường truyền thông trên các nền tảng công nghệ số, thông qua người có sức ảnh hưởng trên mạng xã hội, các kênh truyền thông hiện đại…
Cũng nhấn mạnh về ý nghĩa của chính sách bảo hiểm thất nghiệp, bà Dương Thị Minh Châu, Trưởng phòng Tuyên truyền và Hỗ trợ người tham gia, Bảo hiểm xã hội TP. Hà Nội, cho biết trong bối cảnh thị trường lao động chuyển dịch, chính sách hỗ trợ học nghề mới thực sự đem lại hiệu quả bền vững.
Thay vì loay hoay tìm kiếm những công việc lao động chân tay tương tự, người lao động được trung tâm dịch vụ việc làm tư vấn, định hướng và hỗ trợ chi phí để học một nghề mới phù hợp với nhu cầu của xã hội hiện tại, như thương mại điện tử, logistics, kỹ thuật viên công nghệ...
Đây là quá trình đào tạo lại mang tính sống còn, giúp lao động yếu thế nâng cấp bản thân và quay trở lại thị trường với tâm thế vững vàng hơn.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh năm học 2026-2027 phải tạo chuyển biến thực chất, lấy kết quả làm thước đo, đồng thời xác định mục tiêu xây dựng nền giáo dục công bằng, chất lượng và trung thực...
Bão đang tiến gần Biển Đông, trong khi Bắc Bộ tiếp tục đối mặt với một đợt mưa lớn kéo dài, làm gia tăng nguy cơ lũ quét, sạt lở đất và ngập úng tại nhiều địa phương. Các cơ quan chức năng đã phát đi cảnh báo, đồng thời triển khai các biện pháp ứng phó nhằm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai...
Dự án được Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ không hoàn lại thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức, với tổng vốn 15 triệu Euro. Thời gian triển khai đến 30/12/2030...
Nhu cầu tuyển dụng lao động quý 2/2026 có sự dịch chuyển động lực giữa hai trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, khi Hà Nội đã vươn lên dẫn đầu cả về quy mô lẫn tốc độ tăng trưởng tuyển dụng, phản ánh xu hướng mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp tại khu vực phía Bắc…
Qua tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy có 47 nội dung không rõ ràng, gây khó khăn, vướng mắc, tạo “điểm nghẽn” trong áp dụng, thực hiện pháp luật, cản trở quá trình phát triển...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.