Quy mô vốn khổng lồ và áp lực của hệ thống ngân hàng

Để đạt tốc độ tăng trưởng hai con số, Việt Nam không chỉ phải giải quyết bài toán về năng lực sản xuất hay cải cách thể chế, mà còn phải tìm cách huy động và phân bổ nguồn lực tài chính với quy mô chưa từng có….

TS. Phạm Xuân Hòe, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng.
TS. Phạm Xuân Hòe, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng.

Để Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, tăng trưởng GDP giai đoạn 2026-2030 được kỳ vọng đạt từ 10% trở lên.

Và để hiện thực hóa mục tiêu này, theo các tính toán phục vụ mục tiêu tăng trưởng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng; trong đó khu vực Nhà nước đóng góp khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, phần còn lại khoảng 30 triệu tỷ đồng đến từ doanh nghiệp trong nước, khu vực FDI và thị trường tài chính trong và ngoài nước…

ÁP LỰC TỪ VIỆC TĂNG TRƯỞNG DỰA VÀO VỐN TÍN DỤNG

Và theo tính toán từ BIDV Research, con số này tương đương với quy mô vốn đầu tư bình quân từ 250 đến 260 tỷ USD mỗi năm và trong dài hạn đến năm 2045, nhu cầu vốn có thể chạm mốc 500 tỷ USD mỗi năm.

Tuy nhiên, chia sẻ tại hội thảo “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thách thức, động lực và triển vọng phát triển” mới đây, TS. Phạm Xuân Hòe, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, cho rằng nghịch lý đối với nền kinh tế hiện nay nằm ở chỗ, hệ thống tài chính quốc gia vẫn mang đặc trưng sâu sắc của mô hình “bank-based economy” – nền kinh tế dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng.

Số liệu cho thấy tín dụng ngân hàng thường xuyên gánh vác từ 50-60% tổng nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế, vượt trội hơn hẳn so với thị trường trái phiếu doanh nghiệp (chỉ chiếm 3-6%) và thị trường cổ phiếu (10-18%), còn lại là đầu tư công, FDI và vốn tự có của doanh nghiệp.

“Do đó, các ngân hàng thương mại đang phải “gồng gánh” cùng lúc ba trọng trách: trung gian thanh toán, cung ứng vốn ngắn hạn, và cả tài trợ vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế. Hệ quả tất yếu là bảng cân đối kế toán của hệ thống ngân hàng rơi vào trạng thái quá tải”, ông Hòe cho biết.

Cũng theo ông Hòe, bản chất của hoạt động ngân hàng là huy động vốn ngắn hạn để tài trợ vốn ngắn hạn. Nhưng tại thị trường Việt Nam, khoảng 80% lượng tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi dư nợ cho vay trung và dài hạn từng chiếm tới 47% tổng dư nợ.

Sự chênh lệch kỳ hạn mang tính cấu trúc này tạo ra độ lệch pha ước tính lên tới 5,7 triệu tỷ đồng (tính đến 30/4/2026), biến rủi ro thanh khoản thành một “căn bệnh thường trực”. Vì thế, nếu tiếp tục kích thích tăng trưởng bằng cách bơm tín dụng ồ ạt, rủi ro vĩ mô sẽ gia tăng khó lường.

Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước đạt 18,4 triệu tỷ đồng, đẩy tỷ lệ tín dụng/GDP lên mức 147%. Đây là ngưỡng vượt ranh giới an toàn theo khuyến cáo của IMF và WB, đặt Việt Nam vào nhóm quốc gia có rủi ro cao, đối mặt với nguy cơ “mở rộng tín dụng quá mức”.

Đáng lưu ý, khi tốc độ tăng tín dụng thường xuyên ở mức 15-17%/năm nhưng GDP chỉ tăng 6-7%, dòng vốn rất dễ chảy vào các kênh tài sản, tạo ra bong bóng bất động sản và chứng khoán.

Bên cạnh đó, theo vị chuyên gia, việc nới lỏng các tỷ lệ an toàn, như nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, dù giúp tăng cung vốn nhưng có thể dẫn đến hành vi “đảo nợ”, che đậy nợ xấu tiềm ẩn. Hơn nữa, việc tăng trưởng tín dụng cũng đang vấp phải “nút thắt” lớn từ các chuẩn mực Basel II và Basel III. Việc mở rộng tín dụng kéo theo sự gia tăng của tài sản có rủi ro (RWA), đòi hỏi ngân hàng phải tăng cường vốn chủ sở hữu tương ứng để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn (CAR), cùng với hàng loạt yêu cầu khắt khe về bộ đệm vốn và tỷ lệ thanh khoản.

TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

Kinh nghiệm quốc tế khẳng định, không một quốc gia nào như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc có thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao quanh mức 10%/năm trong nhiều thập kỷ mà chỉ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Thành công của các quốc gia này đến từ việc kiến tạo một hệ sinh thái tài chính đa tầng và cân bằng.

Vì vậy, để giải bài toán vốn cho khát vọng tăng trưởng hai con số, TS. Phạm Xuân Hòe cho rằng Việt Nam cần một chiến lược tái cấu trúc toàn diện dựa trên các trụ cột chiến lược.

Một là, phát triển thực chất thị trường vốn.

Theo đó, cần nhanh chóng nâng hạng thị trường chứng khoán, củng cố niềm tin để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đồng thời khuyến khích các quỹ đầu tư dài hạn và quỹ hưu trí tự nguyện. Mục tiêu cốt lõi là san sẻ gánh nặng cung ứng vốn trung và dài hạn cho hệ thống ngân hàng.

Hai là, tái định vị vai trò Ngân hàng Phát triển (VDB).

Thay vì chỉ thực hiện chính sách tín dụng Nhà nước, VDB cần được định hình lại theo mô hình ngân hàng phát triển hiện đại như KfW (Đức) hay KDB (Hàn Quốc). Định chế này sẽ là “bà đỡ” cấp vốn dài hạn cho các dự án hạ tầng chiến lược, công nghiệp công nghệ cao và chuyển đổi số – những lĩnh vực mà ngân hàng thương mại khó lòng đáp ứng.

Ba là, hình thành các định chế đầu tư chiến lược.

Cần thiết lập Quỹ Đầu tư Phát triển Quốc gia (tương tự Temasek) nhằm dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các trọng điểm kinh tế.

Bốn là, đẩy mạnh khu vực tài chính phi ngân hàng.

Ngành cho thuê tài chính cần được khai phá đúng mức, bởi kênh này giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn trung, dài hạn đổi mới công nghệ mà không cần tài sản thế chấp. Hiện tại, kênh này mới chỉ chiếm khoảng 0,1% tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng.

Năm là, khơi thông dòng tài chính kiểu mới.

Cần thể chế hóa để tận dụng các nguồn lực từ tài chính xanh, thị trường carbon (như mô hình China Green Development Fund), kiều hối, và tài chính hóa nguồn vàng trong dân.

“Lời giải cho bài toán tăng trưởng hai con số không nằm ở việc mở rộng tín dụng bằng mọi giá. Việt Nam chỉ có thể vươn tới quỹ đạo tăng trưởng cao và bền vững khi xây dựng thành công một cấu trúc tài chính hiện đại, giảm bớt sự phụ thuộc vào ngân hàng thương mại, và phân bổ nguồn lực một cách an toàn, hiệu quả vào khu vực sản xuất kinh doanh thực chất”, ông Hòe nhấn mạnh.

Thu hút FDI không còn là cuộc đua ưu đãi

Cuộc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang bước sang giai đoạn mới khi lợi thế về lao động giá rẻ, ưu đãi thuế hay chi phí thuê đất không còn là yếu tố quyết định. Thay vào đó, chất lượng của hệ sinh thái đầu tư đang trở thành tiêu chí quan trọng để các tập đoàn quốc tế lựa chọn điểm đến...

Pepsico đầu tư dự án FDI hơn 300 triệu USD vào Tây Ninh

Ngày 10/7, Công ty TNHH Nước giải khát Suntory PepsiCo Việt Nam chính thức khánh thành nhà máy tại Khu công nghiệp Hựu Thạnh, xã Đức Hòa, tỉnh Tây Ninh. Đây là nhà máy thứ 6 trong mạng lưới sản xuất của doanh nghiệp tại Việt Nam, bên cạnh các cơ sở tại Bắc Ninh, Quảng Nam, Đồng Nai, Hóc Môn và Cần Thơ.

Bộ Xây dựng thúc tiến độ cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột

Dự án thành phần 2 thuộc cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột đang chậm tiến độ 8,15% so với yêu cầu thông xe kỹ thuật dịp Quốc khánh 2/9/2026. Bộ Xây dựng yêu cầu chủ đầu tư kiểm điểm trách nhiệm, buộc các nhà thầu lập lại tiến độ và tăng tốc thi công để bù khối lượng chậm...

Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy