Tại thị trường Việt Nam, xu hướng sử dụng vật liệu tiết kiệm năng lượng, vật liệu xanh, vật liệu tái chế, vật liệu phát thải thấp, vật liệu cách âm, vật liệu không hoặc ít gây hại cho sức khỏe con người ngày càng phổ biến.
Việt Nam đang có tốc độ đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế nhanh chóng với rất nhiều hoạt động xây dựng diễn ra, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh... Các hoạt động như xây mới, cải tạo, phá dỡ các tòa nhà và công trình tạo ra một lượng lớn phế thải xây dựng.
Điển hình như tại Hà Nội, cùng với tốc độ phát triển đô thị và xây dựng hạ tầng, lượng chất thải rắn xây dựng phát sinh ngày càng lớn. Hiện nay, với số lượng lớn khu chung cư cũ và hàng loạt công trình nhà ở, công trình giao thông, khu đô thị mới... đang được triển khai xây mới, cải tạo, sửa chữa, đều tạo ra nguồn phát sinh chất thải rắn xây dựng khổng lồ.
Theo đánh giá, khối lượng chất thải rắn xây dựng tại Hà Nội năm 2024 ước đạt khoảng 2.098 tấn/ngày, chiếm 25% tổng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh. Dự báo đến năm 2030, con số này có thể lên đến 3.400 tấn/ngày.
Tại hội thảo về vật liệu xanh vừa diễn ra, PGS.TS Văn Viết Thiên Ân, Trưởng khoa Vật liệu xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội nhấn mạnh Việt Nam đang đối mặt với lượng chất thải rắn xây dựng gia tăng nhanh chóng, chiếm 10- 12% tổng lượng chất thải đô thị (với khoảng 60.000 tấn/ngày), thậm chí lên tới 20-25% tại các đô thị lớn.
Thống kê cho thấy khối lượng chất thải rắn xây dựng tăng từ 1,9 triệu tấn (năm 2010) lên khoảng 9,6 triệu tấn (năm 2025), trong đó thành phần chủ yếu gồm bê tông, gạch, vữa, đất và bùn thải (70- 90%).
Theo TS Ân “điều này cho thấy tiềm năng lớn trong tái chế và tái sử dụng làm vật liệu xây dựng. Việc tận dụng phế thải phá dỡ công trình là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm phát thải và thúc đẩy phát triển bền vững”.
Tuy nhiên, ông Ân cho rằng quá trình này hiện nay vẫn gặp nhiều rào cản như chất lượng vật liệu tái chế chưa ổn định, thiếu phân loại tại nguồn, chi phí xử lý và vận chuyển cao, cùng với hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn chưa đồng bộ…
Không những thế, hiện nay, thị trường còn tâm lý e ngại, ưu tiên vật liệu truyền thống, trong khi công nghệ sản xuất còn hạn chế và thiếu cơ chế hỗ trợ kinh tế hiệu quả. Ngoài ra, sự phối hợp giữa các bên liên quan vẫn chưa chặt chẽ.
Các chuyên gia cho rằng trong bối cảnh biến đổi khí hậu, phát triển vật liệu xây dựng xanh là xu thế tất yếu.
Theo đó, để thúc đẩy phát triển vật liệu xanh, cần hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, chính sách ưu đãi (thuế, tỷ lệ sử dụng), đồng thời áp dụng các công cụ kinh tế như thuế tài nguyên, thuế carbon nhằm hạn chế vật liệu truyền thống. Nhà nước cần tăng cường giám sát thực thi, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư công nghệ, phát triển hệ thống phân loại và chuỗi cung ứng vật liệu tái chế. Đồng thời, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, hợp tác công - tư và nâng cao nhận thức xã hội trong sử dụng vật liệu xanh, vật liệu tái chế.
Ngoài ra, việc sử dụng vật liệu thay thế như cát nhiễm mặn kết hợp tro bay, nước mặn và cốt sợi GFRP cho công trình ven biển là hướng đi triển vọng, giúp giảm khai thác cát tự nhiên và tận dụng phế thải công nghiệp.
Chia sẻ điều này, bà Nguyễn Thị Tâm, Giám đốc Trung tâm Môi trường nhấn mạnh, một trong những yếu tố cốt lõi của xây dựng bền vững là sử dụng vật liệu xanh, bao gồm sử dụng nguyên liệu tái tạo, chất thải, giảm phát thải C02, tiết kiệm năng lượng, nước, đảm bảo an toàn cho sức khỏe con người.
Trên thế giới, xu hướng giảm tiêu thụ năng lượng trong các công trình bằng cách sử dụng vật liệu từ nguồn tài nguyên tái tạo; vật liệu thân thiện với sức khỏe con người. Sử dụng vật liệu cách âm, vật liệu sinh học, phân hủy sinh học được quan tâm. Đặc biệt sử dụng công nghệ và vật liệu thông minh trở thành xu hướng.
Tại thị trường Việt Nam, xu hướng sử dụng vật liệu tiết kiệm năng lượng, vật liệu xanh, vật liệu tái chế, vật liệu phát thải thấp, vật liệu cách âm, vật liệu không hoặc ít gây hại cho sức khỏe con người ngày càng phổ biến.
Đặc biệt, việc tái chế và tái sử dụng vật liệu cũng đang trở thành xu hướng tại Việt Nam. Sử dụng các vật liệu tái chế như tro xỉ, chất thải, vật liệu phá dỡ công trình để làm nguyên, nhiên liệu, vật liệu xây dựng giảm khai thác tài nguyên và lượng phế thải ngày càng được chú trọng hơn.
Bà Tâm cho rằng giải pháp và chiến lược cần thiết là hoàn thiện các tiêu chuẩn, xây dựng chính sách hỗ trợ và khuyến khích sử dụng vật liệu tái chế và tái tạo. Xây dựng các công cụ quản lý, chính sách hỗ trợ phát triển vật liệu tiết kiệm năng lượng, vật liệu tái chế, vật liệu mới.
Cùng với đó là xây dựng hạ tầng tái chế chất thải, hạ tầng kiểm soát chất lượng sản phẩm. Xây dựng cơ sở dữ liệu về vật liệu xanh, vật liệu tiết kiệm năng lượng, vật liệu tái chế, vật liệu mới để nhà sản xuất, người tiêu dùng lựa chọn cho phù hợp.
Hiện nay, Bộ Xây dựng đang tiếp tục hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề này trong đó có Nghị định quản lý Vật liệu xây dựng thay thế Nghị định số 09/2021/NĐ-CP; Thông tư quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng thay thế cho Thông tư số 10/2024/TT-BXD.
Điểm đáng chú ý trong dự thảo nghị định thay thế là định hướng xây dựng khung quản lý, phát triển vật liệu xây dựng theo hướng gắn với chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, giảm phát thải và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Về lâu dài, đây sẽ là nền tảng quan trọng để tạo môi trường pháp lý minh bạch, ổn định hơn cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển vật liệu mới, vật liệu tái chế, vật liệu xanh và mở rộng thị trường cho các sản phẩm vật liệu xây dựng có chất lượng, có trách nhiệm môi trường cao hơn.
Sử dụng hệ thống pin tích hợp trong cánh, máy bay E9X của công ty khởi nghiệp Hà Lan Elysian Aircraft được thiết kế để chở 90 hành khách, với tầm bay ban đầu 800 km và mục tiêu đạt 1.000 km. Dự kiến đi vào khai thác năm 2034, mẫu máy bay này được kỳ vọng góp phần giảm đáng kể lượng phát thải của ngành hàng không…
Góp ý kiến vào dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật; đồng thời làm rõ một số nội dung để luật vừa tạo động lực phát triển kinh tế biển, vừa bảo vệ môi trường, chủ quyền và lợi ích quốc gia, hướng mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh...
Theo lộ trình, Việt Nam thực hiện mục tiêu cắt giảm 67,5% lượng tiêu thụ cơ sở HCFC trong giai đoạn 2025-2029, tiến tới giảm 97,5% từ năm 2030 và loại trừ hoàn toàn vào năm 2040. Từ thực tế lượng thiết bị đang sử dụng HCFC-22 hiện nay với nhu cầu môi chất lạnh cho sửa chữa, bảo dưỡng vẫn còn lớn trong khi nguồn mới bị hạn chế đặt ra bài toán thu hồi, tái chế, tái sử dụng, quản lý môi chất theo vòng đời. Tính toán cho thấy Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 1.000 tấn HCFC-22 vào năm 2030…
Nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt trong việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ việc cắt thủ tục nhưng không cắt trách nhiệm; nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm; phân cấp nhưng không phân tán; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Nếu giảm tiền kiểm nhưng năng lực hậu kiểm không đáp ứng yêu cầu thì sẽ khó bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường...
Việt Nam đang hoàn thiện khung pháp lý và đẩy mạnh các giải pháp quản lý môi chất lạnh theo Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, hướng tới thu hồi, tái chế xuyên suốt vòng đời thiết bị, góp phần bảo vệ tầng ozone và giảm phát thải khí nhà kính...
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi) đang được xem xét tại nghị trường Quốc hội. Đại biểu Quốc hội thẳng thắn đề nghị quy định trong Luật phải bảo đảm về giá đất bồi thường và tái định cư. Không để việc đơn giản hóa phương pháp định giá làm giảm mức bảo vệ người có đất bị thu hồi. Dân di dời đi tạm cư thì phải có thời hạn.