Theo số liệu được Tổng cục Thống kê công bố sáng 29/4, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 4/2024 ước tính tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 7,0% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất và phân phối điện tăng 11,3%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,6%; riêng ngành khai khoáng giảm 6,8%.
Tính chung bốn tháng đầu năm 2024, IIP ước tính tăng 6,0% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2023 giảm 2,5%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 6,3% (cùng kỳ năm 2023 giảm 2,9%), đóng góp 5,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,3% (cùng kỳ năm 2023 giảm 0,2%), đóng góp 1,1 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,3% (cùng kỳ năm 2023 tăng 6,2%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 4,6% (cùng kỳ năm 2023 giảm 3,7%), làm giảm 0,7 điểm phần trăm.
Báo cáo cũng ghi nhận, chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm của một số ngành trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước, gồm: sản phẩm từ cao su và plastic tăng 27,5%; thiết bị điện tăng 24,7%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 24,3%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 17,3%; khai thác quặng kim loại tăng 16,9%; dệt tăng 14,5%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 13,6%; kim loại tăng 13,0%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,3%; sản phẩm thuốc lá tăng 9,1%; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 9,0%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 2,7%.
Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm là sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 15,4%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 9,6%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 5,1%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim khác giảm 2,5%; khai thác than cứng và than non giảm 1,2%.
Về tình hình sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2024 so với cùng kỳ năm 2023 của các địa phương, báo cáo ghi nhận tăng ở 54 địa phương và giảm ở 9 địa phương trên cả nước.
Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao là Phú Thọ tăng 29,6%; Bắc Giang tăng 24,1%; Hà Nam tăng 15,5%; Bình phước tăng 15,2%. Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao: Khánh Hòa tăng 593,5%; Trà Vinh tăng 144,7%; Thanh Hóa tăng 30%.
Ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp hoặc giảm do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng thấp hoặc giảm như Hà Tĩnh giảm 9,0%; Cà Mau giảm 5,6%, Gia Lai tăng 0,5%.
Các địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện 4 tháng đầu năm 2024 tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước, gồm: Hòa Bình giảm 51,7%; Sơn La giảm 46,2%; Quảng Ninh giảm 23,7%; Lai Châu giảm 16,6%.
Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành khai khoáng bốn tháng đầu năm 2024 so với cùng kỳ năm trước giảm và tăng thấp là: Hà Giang giảm 62,0%; Lâm Đồng tăng 1,8%; Cà Mau tăng 5,0%.
Trong 4 tháng đầu năm 2024, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng so với cùng kỳ năm trước: Thép thanh, thép góc tăng 35,7%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 25,1%; phân U rê tăng 23,0%; thép cán tăng 16,9%; phân hỗn hợp N.P.K tăng 15,7%; sơn hóa học tăng 13,9%; sữa bột tăng 11,8%; điện sản xuất tăng 11,4%.
Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Khí hóa lỏng giảm 20,4%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 14,8%; tivi giảm 11,1%; sắt, thép thô giảm 7,9%; linh kiện điện thoại giảm 7,2%; ô tô giảm 6,6%; xe máy giảm 4,5%; dầu mỏ thô khai thác giảm 3,6%; điện thoại di động giảm 2,8%; bia giảm 2,5%; than sạch giảm 1,2%; thức ăn cho thủy sản giảm 0,8%.
Về tình hình lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/4/2024 tăng 1,2% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,4% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, tỷ lệ tương ứng của doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,7% và tăng 0,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,5% và tăng 5,0%; riêng doanh nghiệp Nhà nước không đổi và giảm 1,2%.
Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 0,5% so với cùng thời điểm năm trước; tỷ lệ tương ứng của ngành chế biến, chế tạo tăng 1,3% và tăng 3,6%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,1% và tăng 0,6%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,2% và tăng 0,1%.
Trong bối cảnh ngành thủy sản đang đối mặt với những thách thức từ biến đổi khí hậu, yêu cầu phát triển xanh và áp lực cạnh tranh ngày càng lớn trên thị trường quốc tế, việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo được xem là chìa khóa để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cho toàn chuỗi sản xuất...
Triển lãm Kết nối Chuỗi cung ứng hàng hóa quốc tế (Viet Nam International Sourcing Expo - VIS 2026) không chỉ là nơi kết nối người mua và người bán, mà còn giúp doanh nghiệp “nghe” được nhu cầu của thị trường để điều chỉnh sản xuất, nâng chất lượng, chuyển đổi xanh và gia tăng giá trị...
Trong bối cảnh các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU và một phần Nhật Bản suy yếu, Trung Quốc - Hồng Kông cùng khối ASEAN đang trở thành động lực chính giúp duy trì đà tăng trưởng của ngành thủy sản Việt Nam...
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.
Thị trường nông sản, chăn nuôi và thủy sản trong tháng 8/2026 ghi nhận nhiều diễn biến trái chiều. Trong khi giá lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long và giá cà phê tại Tây Nguyên tăng so với tháng trước, thì giá lợn hơi, hồ tiêu và tôm thẻ chân trắng lại chịu áp lực giảm do nguồn cung dồi dào và sức mua chưa phục hồi mạnh...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.