Điểm đáng chú ý trong dự thảo nghị định sửa đổi là rút ngắn thời gian xuống còn một ngày (quy định hiện hành là 02 ngày) và thực hiện hoàn toàn bằng trực tuyến.
Theo quy định hiện hành, các loại giấy phép vận tải quốc tế trước đây do Cục Đường bộ Việt Nam cấp gồm giấy phép vận tải đường bộ quốc tế ASEAN, giấy phép liên vận ASEAN, giấy phép vận tải quốc tế GMS (Tiểu vùng Mêkông mở rộng), giấy phép liên vận GMS hoặc sổ TAD, giấy phép vận tải quốc tế giữa Việt Nam và Campuchia.
Dự thảo nghị định sửa đổi đề xuất giao về sở xây dựng ở các địa phương thực hiện. Các sở cũng sẽ được giao thực hiện quy trình đăng ký, ngừng khai thác tuyến, bổ sung, thay thế phương tiện và điều chỉnh tần suất chạy xe trên các tuyến vận tải hành khách cố định Việt Nam - Lào.
Đối với các loại giấy phép vận tải đường bộ quốc tế Việt Nam - Trung Quốc (A, B, C, E, F, G), dự thảo quy định phân cấp triệt để về cho địa phương. Cụ thể, giao Sở Xây dựng các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lào Cai và Lai Châu thực hiện cấp, cấp lại căn cứ theo tuyến vận chuyển và cặp cửa khẩu thuộc phạm vi quản lý.
Cùng với việc phân cấp thẩm quyền cấp phép, Bộ Xây dựng đề xuất trao quyền cho các địa phương chủ động thông báo khai thác tuyến vận tải hành khách định kỳ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Cụ thể, sở xây dựng các tỉnh có tuyến đi sâu vào lãnh thổ hai nước sẽ đảm nhiệm việc thông báo khai thác, thay cho Cục Đường bộ Việt Nam trước đây. Điều này nhằm rút ngắn quy trình hành chính, tăng tính linh hoạt, đồng thời tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động vận tải quốc tế.
Theo quy định của dự thảo, các loại giấy phép nói trên có thời hạn từ ngày cấp đến hết ngày 31/12 của năm cấp phép. Riêng giấy phép loại B và F cấp cho xe công vụ được phép cấp theo đề nghị của tổ chức xin cấp phép, nhưng tối đa cũng không quá ngày 31/12 của năm đó.
Với đề xuất thay đổi này, Bộ Xây dựng nhận định rằng việc phân cấp nhằm tăng tính chủ động cho địa phương, giảm bớt khâu trung gian, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy cải cách hành chính trong lĩnh vực vận tải đường bộ quốc tế.
Điểm mới đáng chú ý trong dự thảo là việc rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính đối với việc cấp và cấp lại giấy phép vận tải quốc tế từ 48 giờ đồng hồ xuống còn 24 giờ, kể từ khi cơ quan có thẩm quyền nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Quy định này áp dụng cho các thủ tục gia hạn thời gian lưu hành tại Việt Nam đối với phương tiện của các nước tham gia Hiệp định khung ASEAN về vận tải đường bộ qua biên giới, Hiệp định GMS (Tiểu vùng Mêkông mở rộng), cũng như phương tiện của Lào, Campuchia và Trung Quốc.
Dự thảo nghị định cũng bỏ hình thức nộp hồ sơ trực tiếp và qua bưu chính, quy định chỉ tiếp nhận hồ sơ trực tuyến thông qua hệ thống công nghệ thông tin tập trung của Bộ Xây dựng. Kết quả giải quyết thủ tục sẽ được trả bản điện tử hợp lệ, thông qua ứng dụng VNeID hay cổng thông tin điện tử của Bộ Xây dựng. Doanh nghiệp có nhu cầu nhận bản giấy vẫn có thể được cấp tại bộ phận một cửa của trung tâm hành chính công, hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính.
Bộ Xây dựng cũng nêu rõ: Việc chuyển đổi này nhằm đẩy mạnh chuyển đổi số, cắt giảm thủ tục hành chính, thực hiện theo Quyết định 1757/QĐ-TTg ngày 18/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Xây dựng, và bảo đảm phù hợp với Nghị định 144/2025/NĐ-CP ngày 22/6/2025 về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng.
Cùng với việc phân cấp, Bộ Xây dựng sẽ xây dựng và nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin tập trung, phục vụ giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực vận tải đường bộ quốc tế, dự kiến sẽ đưa vào vận hành từ ngày 01/01/2026 trên phạm vi toàn quốc.
Một lãnh đạo Bộ Xây dựng khẳng định: Phân cấp mạnh mẽ, giải quyết nhanh gọn, quản lý bằng công nghệ là những yếu tố cốt lõi để ngành vận tải đường bộ quốc tế vận hành hiệu quả, minh bạch và phù hợp xu hướng chuyển đổi số hiện nay. Hiện, Cục Đường bộ Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiện các thủ tục hành chính theo Nghị định 158/2024 đến hết ngày 31/12/2025.




Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động và sự cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng trở nên gay gắt, yêu cầu xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng đang đặt ra những đòi hỏi mới cho mọi thành phần kinh tế. Đặc biệt, khu vực doanh nghiệp nhà nước được xác định là lực lượng nòng cốt trong việc bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và triển khai nhiều dự án chiến lược quốc gia…
25 dự án trong các lĩnh vực hạ tầng khu công nghiệp, cảng biển, logistics, đô thị, nghỉ dưỡng và công nghiệp chế biến... tại Nghệ An với tổng vốn hơn 110.450 tỷ đồng vừa được trao chấp thuận chủ trương đầu tư và chứng nhận đầu tư...
Sau một thời gian đưa vào vận hành, hệ thống kiosk check-in sinh trắc học tại Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài ghi nhận khoảng 3.000-4.000 lượt hành khách sử dụng mỗi ngày, góp phần rút ngắn thời gian làm thủ tục và giảm áp lực tại các khung giờ cao điểm...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng thống nhất phương án trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Khu công nghệ cao Hưng Yên, đồng thời giao UBND tỉnh Hưng Yên ban hành Quy chế hoạt động của khu nhằm bảo đảm đúng quy định pháp luật và đẩy nhanh tiến độ triển khai...
Sáng 31/7, Hội nghị Châu Á của Hiệp hội Kinh tế lượng khu vực Đông Á và Đông Nam Á năm 2026 (AMES 2026) khai mạc tại Hà Nội. Sự kiện do Hiệp hội Kinh tế lượng (Econometric Society), AVSE Global và Trường Đại học Thương mại phối hợp tổ chức...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.