Tăng cường bảo vệ môi trường tại các nhà máy nhiệt điện
CChu Khôi
Chọn cỡ chữ
Trong bối cảnh nhu cầu điện năng tiếp tục gia tăng, việc bảo đảm vận hành ổn định các tổ máy phát điện là yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, song hành với đó là trách nhiệm bảo vệ môi trường ngày càng được siết chặt, việc chủ động triển khai các giải không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro mà còn góp phần xây dựng ngành năng lượng phát triển theo hướng bền vững, hài hòa giữa mục tiêu kinh tế và môi trường.
Nhà máy nhiệt điện phải hài hoà giữa phát điện và bảo vệ môi trường.
Chiều 28/4/2026,
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Công văn số 4187/BNNMT-MT gửi các chủ
đầu tư, đơn vị vận hành nhà máy nhiệt điện trên cả nước, yêu cầu thực hiện
nghiêm các giải pháp bảo vệ môi trường, đồng thời bảo đảm không ảnh hưởng đến
việc huy động các tổ máy phát điện trong các tháng cao điểm mùa khô.
RÀ
SOÁT TOÀN DIỆN HỆ THỐNG XỬ LÝ KHÍ THẢI
Động thái này được
đưa ra trên cơ sở thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông
báo số 158/TB-VPCP ngày 29/3/2026 của Văn phòng Chính phủ. Theo đó, Bộ Nông
nghiệp và Môi trường được giao hướng dẫn các chủ đầu tư tổ chức triển khai các
giải pháp vận hành nhà máy nhiệt điện đáp ứng yêu cầu về khí thải, song song
với việc bảo đảm cung ứng điện ổn định trong giai đoạn nhu cầu tăng cao.
Một trong những
nội dung trọng tâm của công văn là yêu cầu các chủ đầu tư, đơn vị vận hành nhà
máy nhiệt điện tiến hành rà soát toàn diện hiện trạng thiết bị và hiệu quả vận
hành của các công trình xử lý chất thải. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh việc kiểm
tra hệ thống xử lý khí thải nhằm phòng ngừa, giảm thiểu nguy cơ xảy ra sự cố
môi trường dẫn đến phát thải vượt quy chuẩn kỹ thuật.
Trên cơ sở rà soát
tổng thể, các đơn vị cần kịp thời khắc phục các dấu hiệu xuống cấp, hư hỏng của
hệ thống xử lý khí thải, xây dựng kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa và thay thế
thiết bị theo hướng chủ động. Việc triển khai các giải pháp cần ưu tiên thực
hiện trước mùa khô hoặc vào thời điểm phụ tải thấp nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng
đến hoạt động phát điện.
Bộ Nông nghiệp và
Môi trường cũng nhấn mạnh phương châm “phòng ngừa từ sớm, từ xa”, khuyến khích
các nhà máy triển khai ngay các giải pháp kỹ thuật và quản lý có thể thực hiện
mà không làm gián đoạn vận hành các tổ máy. Trong trường hợp bắt buộc phải bảo
dưỡng, sửa chữa hoặc cải tạo thiết bị có thể ảnh hưởng đến công suất phát điện,
các đơn vị cần lập kế hoạch cụ thể và phối hợp chặt chẽ với đơn vị điều độ hệ
thống điện để bố trí thời gian phù hợp với kế hoạch huy động điện trong mùa
khô.
Bên cạnh việc nâng
cao hiệu quả hệ thống xử lý khí thải, Bộ Nông nghiệp và Mội trường cũng đề cập đến các giải pháp cụ
thể trong vận hành tổ máy phát điện nhằm giảm thiểu phát thải ngay từ nguồn.
Theo đó, các nhà
máy cần tăng cường kiểm soát chất lượng nhiên liệu đầu vào, đặc biệt là các chỉ
tiêu kỹ thuật như hàm lượng lưu huỳnh, tro và độ ẩm trong than. Trên cơ sở đánh
giá chất lượng nhiên liệu, các đơn vị phải dự báo nồng độ phát thải của các thông
số ô nhiễm chính như SO₂, NOx và bụi tổng để điều chỉnh tỷ lệ phối trộn nhiên
liệu phù hợp. Bộ cũng yêu cầu không tiếp nhận các loại than không đáp ứng tiêu
chuẩn theo thiết kế công nghệ của tổ máy.
Ngoài ra, việc duy
trì và tăng cường bề mặt trao đổi nhiệt thông qua điều chỉnh cơ chế nghiền
than, chế độ cấp gió và xử lý xỉ lò cũng được coi là yếu tố quan trọng. Những
biện pháp này giúp bảo đảm hiệu suất cháy ổn định, hạn chế dao động tải, từ đó
duy trì chế độ vận hành tối ưu cho tổ máy và giảm thiểu biến động nồng độ các
chất ô nhiễm trong khí thải.
TUÂN
THỦ LỘ TRÌNH KHÍ THẢI MỚI
Để nâng cao hiệu
quả vận hành hệ thống xử lý khí thải, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến nghị
các nhà máy thiết lập ngưỡng cảnh báo nội bộ đối với các thông số ô nhiễm như
CO, NOx, SO₂ và bụi tổng. Việc này giúp các đơn vị chủ động điều chỉnh chế độ
vận hành và thành phần nhiên liệu kịp thời, tránh nguy cơ vượt quy chuẩn kỹ
thuật.
Song song với đó,
cần tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá tình trạng hoạt động của các
thiết bị trong hệ thống xử lý khí thải. Cụ thể, đối với hệ thống lọc bụi tĩnh
điện (ESP), cần kiểm soát tình trạng hoạt động của các bản cực và bộ chỉnh lưu;
với hệ thống lọc bụi túi vải, cần theo dõi hiệu quả của các túi lọc và hệ thống
rũ bụi.
Đối với hệ thống
khử SO₂, các nhà máy phải kiểm soát chặt chẽ pH, lưu lượng tuần hoàn của dung
dịch hấp thụ, tỷ lệ cấp đá vôi cũng như tình trạng đóng cặn trong đường ống và
tháp hấp thụ. Với hệ thống khử NOx, cần sử dụng các đầu đốt low-NOx, điều chỉnh
hệ số cấp khí và sử dụng hóa chất khử như ure hoặc amoniac với liều lượng phù
hợp, áp dụng công nghệ không xúc tác (SNCR) hay có xúc tác (SCR).
Đáng chú ý, đối với các hạng mục cải tạo, nâng cấp có chi phí đầu tư lớn như hệ thống ESP, khử SO₂ hay SCR, Bộ yêu cầu các đơn vị xây dựng lộ trình thực hiện cụ thể, bảo đảm hạn chế tối đa ảnh hưởng đến việc huy động công suất phát điện trong mùa khô cũng như các năm tiếp theo.
Công văn cũng nhắc
lại quy định liên quan đến Thông tư số 45/2024/TT-BTNMT ban hành quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về khí thải công nghiệp (QCVN 19:2024/BTNMT), có hiệu lực từ
ngày 01/7/2025.
Theo quy định tại
khoản 1 Điều 3 của Thông tư, trong giai đoạn từ ngày 1/7/2025 đến hết ngày
31/12/2031, các nhà máy nhiệt điện đã đi vào vận hành hoặc các dự án đã hoàn
tất thủ tục môi trường trước thời điểm 01/7/2025 được tiếp tục áp dụng QCVN
22:2009/BTNMT và các quy định của địa phương để kiểm soát chất lượng khí thải.
Tuy nhiên, từ ngày
1/1/2032, các cơ sở này phải đáp ứng các yêu cầu mới theo QCVN 19:2024/BTNMT.
Do đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các chủ đầu tư khẩn trương xây dựng
kế hoạch nghiên cứu chuyển đổi công nghệ sản xuất, công nghệ xử lý chất thải và
áp dụng các biện pháp quản lý môi trường tiên tiến để đáp ứng quy định mới.
Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn (TCSG) được công nhận đạt Thương hiệu Quốc gia Việt Nam năm 2026 đối với hai nhóm dịch vụ: khai thác cảng; dịch vụ logistics, vận tải hàng hóa và các ngành kinh tế biển. Đây là lần thứ 9 liên tiếp TCSG được ghi nhận qua các kỳ xét chọn, đánh dấu hành trình duy trì và cải tiến chất lượng dịch vụ trong 18 năm.
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.
Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...
Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...