Các ý kiến tại Hội nghị SB64 đều khẳng định tài chính khí hậu là yếu tố then chốt để đạt được các mục tiêu giảm phát thải, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
Tại Hội nghị SB64 diễn ra từ ngày 8-18/6 ở thành phố Bonn, Cộng hòa Liên bang Đức, các phiên đối thoại Lộ trình Baku – Belém thu hút sự tham gia của đại diện các quốc gia, ngân hàng phát triển đa phương, tổ chức tài chính quốc tế, khu vực tư nhân và các bên liên quan.
Lộ trình Baku – Belém được thống nhất sau COP29 tại Baku (Azerbaijan), đặt mục tiêu huy động ít nhất 1,3 nghìn tỷ USD mỗi năm cho các nước đang phát triển đến năm 2035. Mục tiêu này mang kỳ vọng sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách tài chính khí hậu và thúc đẩy thực hiện các mục tiêu của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu toàn cầu.
Các ý kiến tại Hội nghị SB64 đều khẳng định tài chính khí hậu là yếu tố then chốt để đạt được các mục tiêu giảm phát thải, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
Quan điểm của nhiều nước đang phát triển nhấn mạnh vai trò nền tảng của tài chính công và nguồn vốn ưu đãi từ các nước phát triển trong hỗ trợ thích ứng, chuyển đổi công bằng và ứng phó với tổn thất, thiệt hại.
Đặc biệt, việc thực hiện đầy đủ các cam kết tài chính theo UNFCCC và Thỏa thuận Paris được xem là điều kiện quan trọng để củng cố lòng tin và tăng cường hợp tác quốc tế.
Tuy nhiên, các tổ chức tài chính quốc tế và ngân hàng phát triển đa phương cho rằng nguồn lực công không đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư ngày càng lớn. Vì vậy, huy động vốn tư nhân thông qua các cơ chế như bảo lãnh, chia sẻ rủi ro, tài chính hỗn hợp (blended finance), cải cách hệ thống tài chính quốc tế và phát triển các nền tảng đầu tư quốc gia được coi là giải pháp quan trọng để đạt mục tiêu 1,3 nghìn tỷ USD mỗi năm.
Kinh nghiệm được chia sẻ tại Bonn cho thấy hiệu quả tài chính khí hậu không chỉ phụ thuộc vào quy mô vốn huy động mà còn ở chất lượng chuẩn bị dự án, năng lực thể chế và khả năng giải ngân. Một xu hướng nổi bật là chuyển trọng tâm từ huy động nguồn lực sang nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo đảm nguồn vốn tạo ra kết quả cụ thể về giảm phát thải, tăng khả năng chống chịu và cải thiện đời sống người dân.
Các bên cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm công bằng trong tiếp cận tài chính khí hậu theo nguyên tắc trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và năng lực tương ứng, ưu tiên hỗ trợ các quốc gia dễ bị tổn thương, đồng thời nâng cao tính minh bạch và khả năng tiếp cận của các cơ chế tài chính hiện có.
Đối với Việt Nam, các nội dung thảo luận tại Bonn có ý nghĩa thiết thực trong quá trình triển khai NDC, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và các mục tiêu phát triển bền vững.
Việt Nam đang tập trung hoàn thiện thể chế, phát huy nội lực và tận dụng hiệu quả nguồn lực quốc tế để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh nhu cầu đầu tư cho hạ tầng, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và ứng phó với biến đổi khí hậu ngày càng lớn, việc tăng cường tiếp cận tài chính khí hậu quốc tế, phát triển danh mục dự án xanh và thúc đẩy hợp tác công - tư sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và thực hiện các cam kết khí hậu.
Các cuộc thảo luận tại Bonn cho thấy, hành trình từ Baku đến Belém không chỉ nhằm huy động thêm nguồn lực mà còn hướng tới xây dựng các cơ chế hợp tác hiệu quả để phân bổ và sử dụng vốn tốt hơn. Đây sẽ tiếp tục là nội dung trọng tâm của tiến trình đàm phán khí hậu quốc tế trong thời gian tới, hướng tới các mục tiêu dài hạn của Thỏa thuận Paris.
Tầm nhìn đến năm 2050, TP. Hồ Chí Minh sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp từ chuyển đổi năng lượng, phát triển hạ tầng chống chịu đến quản lý tài nguyên và giảm phát thải khí nhà kính nhằm nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu...
Ngày 23/7/2026, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP), Văn phòng dịch vụ dự án Liên Hợp Quốc (UNOPS) và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam sẽ tổ chức Tọa đàm “Thúc đẩy hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon hướng tới thực hiện cam kết giảm phát thải của quốc gia và doanh nghiệp”...
Quy định phương pháp thu thuế theo đầu vào của quá trình chế biến khoáng sản như hiện nay chưa nhận diện và phân biệt giữa sản phẩm tài nguyên nguyên khai với sản phẩm đã qua chế biến. Việc thay đổi tính thuế theo doanh thu đầu ra cho phép nhận diện rõ ràng, minh bạch từng loại sản phẩm và phân định chính xác các cấp độ chế biến sâu trong chuỗi giá trị. Sản phẩm khoáng sản càng được ứng dụng công nghệ cao để chế biến sâu, tinh khiết thì thuế suất áp dụng càng thấp....
Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT vừa được Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành đã quy định cụ thể về phương pháp định giá rừng, hướng dẫn định khung giá rừng và phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng…
UBND tỉnh Ninh Bình vừa ban hành Kế hoạch số 246/KH-UBND nhằm phát triển đồng bộ hệ thống thoát nước và xử lý nước thải đô thị trên địa bàn, hướng tới mục tiêu bảo vệ môi trường và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bền vững...
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Từng bị xem là loài cỏ dại mọc ven bờ ruộng, rau má ở làng cổ Đông Sơn (phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa) nay đã trở thành cây trồng chủ lực của nhiều hộ dân, mang lại nguồn thu nhập ổn định hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Sự chuyển đổi từ những ruộng hoa màu kém hiệu quả sang trồng rau má không chỉ nâng cao giá trị kinh tế trên cùng diện tích đất mà còn góp phần gìn giữ một loài cây đã gắn bó với vùng đất cổ suốt hàng nghìn năm.