Theo quy định mới, UBND cấp xã được xác định là lực lượng
trực tiếp, gần dân nhất trong quản lý môi trường nông thôn. Việc luật hóa vai
trò này cho thấy một định hướng nhất quán của Nhà nước trong việc tăng cường hiệu
lực, hiệu quả quản lý môi trường ngay từ cấp cơ sở. Đồng thời, tạo cơ sở pháp
lý rõ ràng để cấp xã chủ động, trách nhiệm hơn trong tổ chức thực hiện các nhiệm
vụ bảo vệ môi trường tại địa bàn nông thôn.
“TUYẾN ĐẦU” TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN
Khoản 2 Điều 58 Luật Bảo vệ môi trường (được sửa đổi, bổ
sung) đã quy định rõ trách nhiệm bảo vệ môi trường nông thôn của các cấp chính
quyền, trong đó UBND cấp xã giữ vai trò then chốt. Theo đó, cấp xã có trách nhiệm
quản lý các loại chất thải sinh hoạt, nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát
sinh trên địa bàn; tổ chức thống kê, phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất
thải rắn theo quy định về quản lý chất thải.
Cùng với đó, UBND cấp xã tổ chức các hoạt động giữ gìn vệ
sinh môi trường, cải tạo cảnh quan nông thôn, góp phần xây dựng môi trường sống
sạch, đẹp, an toàn cho người dân. Việc đầu tư, nâng cấp hệ thống thoát nước và
xử lý nước thải theo quy định của pháp luật cũng được xác định là một trong những
nhiệm vụ quan trọng, nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường phát sinh từ
sinh hoạt và sản xuất ở khu vực nông thôn.
Luật cũng giao cho UBND cấp xã trách nhiệm theo dõi, đánh
giá diễn biến chất lượng môi trường trên địa bàn. Đối với các điểm, khu vực bị
ô nhiễm, chính quyền cấp xã có trách nhiệm khoanh vùng, tổ chức xử lý, cải tạo,
phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường. Quy định này thể hiện rõ quan điểm
quản lý môi trường phải được thực hiện ngay từ cơ sở, phát hiện sớm và xử lý kịp
thời các nguy cơ gây ô nhiễm.
Một nội dung quan trọng khác được nhấn mạnh là vai trò của
UBND cấp xã trong việc xây dựng và thực hiện các mô hình tự quản về bảo vệ môi
trường ở cộng đồng dân cư. Theo luật, cấp xã có trách nhiệm quy định và hướng dẫn
hoạt động tự quản về bảo vệ môi trường trên địa bàn nông thôn; đồng thời hướng
dẫn cộng đồng dân cư đưa nội dung bảo vệ môi trường vào hương ước, quy ước, gắn
với xây dựng nông thôn mới và gia đình văn hóa.
Việc gắn trách nhiệm bảo vệ môi trường với cộng đồng dân
cư giúp phát huy vai trò chủ thể của người dân, biến các quy định pháp luật
thành những chuẩn mực ứng xử cụ thể trong đời sống hằng ngày. Khi người dân trực
tiếp tham gia, giám sát và thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường, hiệu quả
quản lý sẽ được nâng cao, tính bền vững cũng được bảo đảm.
LÀM RÕ TRÁCH NHIỆM CỦA UBND CẤP XÃ
Cùng với việc sửa đổi Điều 58, Luật Bảo vệ môi trường
cũng sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 168, quy định rõ hơn trách nhiệm quản lý nhà
nước về bảo vệ môi trường của UBND cấp xã. Theo đó, UBND cấp xã có trách nhiệm
xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về bảo vệ môi trường của địa
phương; tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo thẩm
quyền.
UBND cấp xã đồng thời có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện kiểm soát các nguồn ô nhiễm; phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Việc tiếp nhận đăng ký môi trường, tổ chức quản lý các nguồn thải theo phân công, phân cấp cũng được xác định rõ là nhiệm vụ của cấp xã.
Đáng chú ý, luật quy định UBND cấp xã chịu
trách nhiệm trước cấp trên về việc để xảy ra ô nhiễm môi trường trên địa bàn,
qua đó nâng cao tính trách nhiệm và kỷ cương trong quản lý.
Bên cạnh đó, UBND cấp xã thực hiện công tác theo dõi,
giám sát, cảnh báo và quản lý chất lượng môi trường; cải tạo, phục hồi môi trường;
bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học theo thẩm quyền. Công tác kiểm tra, xử
lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh của người dân cũng được luật hóa cụ thể, tạo hành lang pháp lý để
chính quyền cơ sở chủ động xử lý các vấn đề môi trường phát sinh.
Luật sửa đổi cũng nhấn mạnh trách nhiệm của UBND cấp xã
trong công tác truyền thông, phổ biến kiến thức và tuyên truyền pháp luật về bảo
vệ môi trường; giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức bảo vệ môi trường trong cộng
đồng dân cư. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa lâu dài, góp phần hình thành nếp sống
thân thiện với môi trường ở khu vực nông thôn.
Song song với đó, UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức thu
thập thông tin, lập và báo cáo môi trường theo quy định của pháp luật; huy động
và sử dụng các nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường. Việc trình Hội đồng
nhân dân cùng cấp hoặc cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí để thực hiện các nhiệm
vụ bảo vệ môi trường cũng được quy định rõ, tạo điều kiện bảo đảm nguồn lực cho
công tác này.
Việc quy định rõ ràng, đầy đủ trách nhiệm của UBND cấp xã
trong Luật Bảo vệ môi trường thể hiện sự thay đổi quan trọng trong tư duy quản
lý môi trường, lấy cơ sở làm trọng tâm, lấy cộng đồng làm nền tảng. Khi vai
trò, thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền cấp xã được xác định cụ thể,
công tác bảo vệ môi trường nông thôn sẽ có điều kiện triển khai đồng bộ, thống
nhất và hiệu quả hơn.