
Theo số liệu mới công bố từ Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý 1/2023 ước tính tăng 3,32% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức thấp hơn chỉ tiêu được Quốc hội giao.
Đánh giá về kết quả trên, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương cho rằng điều này phản ánh thực tiễn đúng theo những gì mà Chính phủ đánh giá khi xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2023.
"Lúc đó nhận định về bối cảnh tình hình cho thấy khó khăn thách thức và cơ hội, thuận lợi đan xen nhưng khó khăn thách thức nhiều hơn. Thực tế đã diễn ra đúng như nhận định, thậm chí những khó khăn, thách thức còn lớn hơn những gì chúng ta dự kiến", ông Phương nhấn mạnh.
Ông Phương đánh giá tình hình kinh tế thế giới với nhiều khó khăn như lạm phát vẫn còn cao, chính sách thắt chặt tiền tệ ở nhiều nước, nhu cầu toàn cầu giảm sút, cuộc xung đột Nga-Ukraine… có tác động rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam do có độ mở lớn.
"Với bối cảnh như vậy, qua báo cáo của Tổng cục Thống kê và đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, kết quả tăng trưởng của quý 1 được đánh giá ở mức khá so với bình quân chung trên thế giới và khu vực, khi mà các nền kinh tế khác được dự báo là tăng trưởng ở mức rất thấp. Chúng ta phải ghi nhận một cách khách quan và trong báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phân tích rõ những nguyên nhân, kết quả đạt được cũng như những khó khăn, hạn chế mà chúng ta cần khắc phục", ông Phương phát biểu.
Trên cơ sở những phân tích trên, lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư nêu rõ một số giải pháp trọng tâm trong phần còn lại của năm nay để đạt được các mục tiêu tăng trưởng.
Thứ nhất, trong năm 2023, với những khó khăn như trên để đạt mục tiêu, kế hoạch đã đề ra và chỉ tiêu Quốc hội giao, tất cả phải nỗ lực, cố gắng rất lớn để bù đắp những gì quý 1 chưa đạt được.
"Ở đây, chúng ta phải giữ quan điểm nhất quán, trước tiên là đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Đây là yếu tố nền tảng, quyết định mọi thứ để có thể triển khai các giải pháp khác nhằm phục hồi cũng như thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế những tháng còn lại", ông Phương nhấn mạnh.
Thứ hai, trong các giải pháp về vĩ mô, ông Phương chỉ ra 2 chính sách cần chú trọng trong điều hành, hết sức linh hoạt, hiệu quả, và thận trọng. Đó là chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.
"Hiện nay, với tác động chính sách tiền tệ thế giới, chúng ta gặp rất nhiều thách thức trong quá trình điều hành, đòi hỏi mức độ nhạy bén, kịp thời, linh hoạt hết sức cao trong điều hành, vừa đảm bảo chống chọi với khó khăn do quốc tế mang lại, nhưng cũng cần đảm bảo cung cấp đủ nguồn lực cho nền kinh tế để duy trì hoạt động và phát triển", lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết.
Thứ ba, phải rà soát ngay tất cả các chính sách, động lực tăng trưởng còn lại của nền kinh tế để tập trung tác động, lấy tăng trưởng của khu vực thuận lợi để bù đắp khu vực khó khăn.
Ông Phương dẫn phân tích của Tổng cục Thống kê cho biết khu vực sản xuất chế biến, chế tạo gặp rất nhiều khó khăn, tăng trưởng ở mức thấp, tăng trưởng âm. Vì thế, những động lực còn lại cần phải quan tâm hơn với nông nghiệp là trụ đỡ. Trong khi đó, ngành dịch vụ tăng trưởng tốt, do vậy tập trung vào lĩnh vực dịch vụ để đỡ bớt cho các lĩnh vực khác.
Ở khía cạnh tiêu dùng, động lực xuất khẩu tuy giảm về quy mô nhưng về cân đối chúng ta vẫn duy trì được thặng dư xuất khẩu với xuất siêu 4 tỷ USD.
Trong lĩnh vực đầu tư, đầu tư nước ngoài, đầu tư tư nhân tuy bị ảnh hưởng nhưng vẫn giữ được mức tăng trưởng dương.
"Ở đây, vai trò của đầu tư công hết sức lớn. Thủ tướng Chính phủ vẫn tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương quan tâm đến thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. Đây là giải pháp then chốt trong động lực về đầu tư và tăng trưởng", ông Phương nhấn mạnh.
Thứ tư, trong các lĩnh vực cần rà soát là phát triển thị trường trong nước. Khi xuất khẩu của chúng ta gặp khó khăn, vai trò của thị trường trong nước hết sức quan trọng. Do đó, phải áp dụng tất cả các giải pháp để khuyến khích thị trường trong nước phát triển hơn.
Theo ông Phương, từ nay đến cuối năm, bên cạnh những giải pháp chung, chúng ta đã xác định trong Nghị quyết 01 của Chính phủ, cũng như các nghị quyết chuyên đề theo chỉ đạo của Thủ tướng.
"Trong kiến nghị lần này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tham mưu một giải pháp khá mới trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với tất cả các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và nhà đầu tư. Đó là tháo gỡ ngay từ cấp cơ sở", lãnh đạo Bộ cho biết.
Ở Trung ương, Thủ tướng đã chỉ đạo quyết liệt việc thành lập các ban chỉ đạo, tổ công tác liên ngành, tổ công tác đặc biệt. Ở địa phương, cũng cần tương tự như vậy. Bộ Kế hoạch và đầu tư Kiến nghị các địa phương cũng thành lập các tổ công tác đặc biệt như vậy, tập trung giải quyết thẳng vào các dự án, các doanh nghiệp đầu tư đang gặp khó khăn, vướng mắc tại địa phương để có cơ hội ổn định sản xuất, kinh doanh.
"Có như vậy thì mới có thể phần nào vượt qua khó khăn ban đầu của quý 1, cố gắng đạt được mục tiêu trong các tháng, các quý còn lại dù chúng ta biết rằng, nhiệm vụ từ nay đến cuối năm hết sức nặng nề, đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng hết sức lớn từ các cấp, các ngành", lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết.
Ngày 23/7/2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiếp tục ngày làm việc thứ tư.
Tạp chí Kinh tế Việt Nam trân trọng giới thiệu: Thư của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026)
Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố Đồng Nai đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2065, xác lập một loạt mục tiêu tăng trưởng dài hạn cùng 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp nhằm đưa Đồng Nai trở thành cực tăng trưởng đa chức năng của quốc gia, lấy mô hình đô thị sân bay làm động lực trung tâm...
Theo HSBC, kết quả tăng trưởng GDP 8,18% trong 6 tháng đầu năm phản ánh nền kinh tế Việt Nam đang có thêm nhiều động lực tăng trưởng, trong đó FDI tiếp tục là "lá phiếu tín nhiệm" của nhà đầu tư quốc tế. Dù vậy, áp lực lạm phát, tỷ giá và lãi suất vẫn là những biến số đáng lưu ý trong những tháng cuối năm...
Ngày 22/7/2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiếp tục ngày làm việc thứ ba.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.