Bốn thập niên Đổi mới cho thấy một quy luật: mỗi khi thể chế tháo được một nút thắt thì một nguồn lực phát triển lại được giải phóng, tạo thành động lực đột phá phát triển. Cụ thể, khoán trong nông nghiệp giải phóng sức sản xuất của hộ nông dân; Luật Doanh nghiệp và cải cách quyền kinh doanh giải phóng tinh thần doanh nhân; mở cửa và hội nhập giải phóng khả năng tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường quốc tế.
Công cuộc cải cách hiện nay không tập trung vào một nút thắt riêng lẻ mà đồng thời thay đổi triết lý quản trị, mô hình tổ chức bộ máy nhà nước, phân quyền và trách nhiệm, vị thế của kinh tế tư nhân và con đường tạo ra năng suất mới dựa vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thành công của đổi mới không phải là thay đổi bao nhiêu nghị quyết, luật hay cơ chế, chính sách mới được ban hành, mà là nguồn lực nào được giải phóng, năng lực nào được tăng cường và kết quả phát triển nào thực sự bứt phá.
Vấn đề đặt ra là: những đổi mới thể chế đang tạo ra dư địa phát triển mới như thế nào và đã chuyển hóa thành sức bật của địa phương, doanh nghiệp đến đâu; phần chưa chuyển hóa được là do chính sách còn thiếu đồng bộ, thiếu điều kiện thực hiện hay do năng lực thực thi chưa theo kịp?
Đột phá quan trọng nhất không nằm ở một chính sách cụ thể, mà ở sự thay đổi triết lý quản trị, chuyển từ mô hình nhà nước quản lý sang nhà nước kiến tạo phát triển.
Thứ nhất, từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Hệ thống pháp luật được đặt ra không chỉ để phục vụ yêu cầu quản lý của nhà nước, mà mục tiêu hướng đến là khuyến khích sáng tạo, giải phóng sức sản xuất, khơi thông nguồn lực và tạo hành lang cho hoạt động kinh tế mới ra đời và phát triển.
Thứ hai, xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên quản trị rủi ro và dữ liệu, hạn chế thanh tra, kiểm tra, cắt giảm thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và tạo môi trường thể chế minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.
Thứ ba, chuyển từ quản lý theo quy trình, đánh giá kết quả dựa vào việc tuân thủ, chấp hành, sang quản lý theo mục tiêu và đánh giá dựa vào kết quả đầu ra, là đổi mới căn bản tư duy quản lý để chuyển từ nhà nước quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển. Công cuộc sắp xếp lại đơn vị hành chính, tổ chức lại bộ máy nhà nước, tinh gọn bộ máy quản lý nhà nước đã xóa bỏ những chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, xóa bỏ tầng nấc trung gian, đã mở ra không gian phát triển mới, phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm, đặc biệt là quyền hạn của cấp thực thi.
Những thay đổi này khắc phục sự trì trệ, né tránh trách nhiệm và thiếu chủ động của bộ máy nhà nước trước yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, đồng thời mở ra cơ chế vừa đòi hỏi, vừa tạo hành lang pháp lý phát huy tính năng động, sáng tạo của cán bộ và các cơ quan quản lý phải tìm con đường để đạt được kết quả tốt nhất, hướng đến kết quả cuối cùng là đáp ứng tốt nhất yêu cầu của người dân và doanh nghiệp.
Đổi mới thể chế đang hướng đến mục tiêu tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi và hấp dẫn thuộc nhóm đứng đầu các nước trong khu vực, từ đó mang lại những kết quả bước đầu đáng ghi nhận ở cả góc độ tạo đột phá cho phát triển của các địa phương và doanh nghiệp.
Kết quả điều tra Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) công bố năm 2025 cho thấy 79% doanh nghiệp thực hiện thủ tục trực tuyến cho rằng tiết kiệm thời gian và 78% ghi nhận tiết kiệm chi phí; danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện giảm từ 198 xuống còn 142 ngành, nghề. Vị thế và điều kiện phát triển của kinh tế tư nhân và doanh nghiệp Việt Nam không chỉ được nâng tầm trong nước mà còn vươn tầm quốc tế: Viettel làm chủ khoảng 85% công nghệ lõi mạng 5G; các doanh nghiệp UAV như Viettel, CT Group, Realtime Robotics làm chủ trên 70% công nghệ lõi và bước đầu xuất khẩu sang các nước phát triển; nhóm AI camera như MK, Hanet, BKAV, CMC, VNPT làm chủ khoảng 65%.
Đáng chú ý hơn số lượng sản phẩm là sự chuyển dịch từ sử dụng sang phát triển công nghệ, từ tham gia thị trường có sẵn sang tạo sản phẩm mới. Ý nghĩa sâu hơn của đột phá thể chế là làm xuất hiện những năng lực phát triển mà trước đây nền kinh tế chưa có.
Chính quyền địa phương hai cấp tạo không gian phát triển mới và việc phân bổ lại quyền phát triển giữa Trung ương và địa phương, đẩy mạnh phân quyền cho cơ sở đã tạo tiền đề cho sức bật của nhiều địa phương. Với Quảng Ninh, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2025 tăng 11,89% so với năm trước; 8 tháng đầu năm 2026 thu ngân sách đạt 98,8% kế hoạch; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 31,77% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư ngoài ngân sách trong nước đạt 182.732 tỷ đồng. Với Hải Phòng, GRDP năm 2025 tăng 11,81%; 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục tăng 11,33%; thu ngân sách tăng 12,4%. Nhiều địa phương như Ninh Bình, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hưng Yên cũng đều có mức tăng trưởng cao 2 con số.
Nhìn tổng thể, một triết lý phát triển mới đang dần hình thành: nhà nước bớt quản lý theo kiểu ngồi chờ người dân và doanh nghiệp đến xin để cho, mà dịch vụ công trực tuyến đang mang dịch vụ đến tận nhà người dân; doanh nghiệp đang đổi vai từ đi xin được làm sang “bị thúc ép” phải làm nhanh hơn, phải nhận nhiều cơ hội hơn do chính quyền trao cho; chính quyền cơ sở được toàn quyền tự quyết các vấn đề tại địa phương mà không phải xin ý kiến.
Mặc dù những đổi mới thể chế đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên kết quả thực tế vẫn chưa đồng đều và chưa tiếp cận những mục tiêu mà cải cách đặt ra: bộ máy được tinh gọn nhưng công việc và áp lực thực thi ở nhiều cấp đang quá tải, làm việc nhiều nhưng kết quả cuối cùng mang lại không thay đổi bao nhiêu; phân quyền mạnh hơn nhưng năng lực sử dụng quyền còn khác biệt; thủ tục được cắt giảm và số hóa nhưng người dân, doanh nghiệp vẫn gặp những điểm nghẽn về quyền tiếp cận và nghĩa vụ tuân thủ; nhiều chính sách hỗ trợ đã được ban hành nhưng nguồn lực thực tế đến được doanh nghiệp còn hạn chế.
Khoảng cách đó đặt ra yêu cầu phải phân định rõ: đâu là vấn đề do chính sách chưa đồng bộ, chưa tạo đủ điều kiện để thực hiện; đâu là vấn đề thuộc về năng lực tổ chức thực thi?
Một chính sách mới hướng đến mục tiêu tốt đẹp chưa đủ để đi vào cuộc sống mà cần đồng bộ với các chính sách khác và đủ các điều kiện để vận hành.
Bỏ thuế khoán, miễn thuế cho hộ có doanh thu tới 1 tỷ đồng/năm nhằm để hộ kinh doanh tiếp cận với công cụ quản lý chuyên nghiệp nhờ công cụ hạch toán và phân tích hiệu quả kinh doanh tự động, chỉ phải nộp thuế khi kinh doanh có hiệu quả cao, thay cho việc nộp thuế khoán một cục, không cần biết hộ kinh doanh có lãi hay lỗ vẫn phải nộp thuế.
Tuy nhiên, Luật Kế toán vẫn quy định về hóa đơn, chứng từ và sổ sách ghi chép bằng giấy như truyền thống; hệ thống hạ tầng công nghệ chưa đủ khả năng kết nối hàng triệu hộ kinh doanh qua máy tính tiền để quản lý doanh thu thực thông qua dữ liệu bán hàng, thanh toán ngân hàng, kết nối với cơ quan thuế để cơ quan thuế tự kiểm tra, tự tính thuế và thông báo thuế trở lại cho hộ kinh doanh kèm theo các dữ liệu kinh doanh làm cơ sở tính thuế.
Do vậy, người kinh doanh vẫn phải thu thập chứng từ, trả tiền cho mỗi lần xuất hóa đơn đỏ khi bán hàng, phải tự ghi chép, tự tổng hợp, nhập liệu, đối chiếu và kê khai qua nhiều khâu, dẫn đến chi phí tuân thủ còn tăng thêm nhiều hơn so với giai đoạn chưa chuyển đổi.
Để chuyển đổi hộ sang kinh doanh chuyên nghiệp, giảm chi phí tuân thủ về thuế và kế toán cho doanh nghiệp, Luật Kế toán phải xóa bỏ hoàn toàn quy định về hóa đơn, chứng từ, sổ sách kế toán theo truyền thống; phải chuyển sang tiếp nhận các thông tin, dữ liệu giao dịch điện tử được hình thành khách quan; phải trang bị cho mỗi hộ kinh doanh, mỗi doanh nghiệp một máy tính tiền có phần mềm dùng chung với hệ thống đường truyền kết nối với cơ quan thuế để cơ quan thuế là người quản lý thuế, tính thuế thay cho hộ và doanh nghiệp; khi đó chi phí kế toán và tuân thủ chính sách thuế của hộ hay doanh nghiệp gần như bằng “0”; đồng thời hộ, doanh nghiệp có đầy đủ dữ liệu để phân tích, đánh giá làm cơ sở phát triển các hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
Bên cạnh đó, cơ chế phân cấp, trao quyền đã đặt cấp xã trở thành cấp trực tiếp giải quyết phần lớn những vấn đề phát sinh hằng ngày của người dân và doanh nghiệp, phạm vi nhiệm vụ và trách nhiệm tăng lên, nhưng các điều kiện để thực hiện quyền được giao chưa tương ứng. Tuy nhiên, dữ liệu phục vụ quản lý còn phân tán ở nhiều hệ thống, việc chia sẻ và liên thông chưa đầy đủ; hạ tầng số và đường truyền ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu xử lý khối lượng công việc lớn; trong khi đội ngũ cán bộ cơ sở vừa phải tiếp nhận nhiều nhiệm vụ mới, vừa thiếu nhân lực có chuyên môn sâu về những lĩnh vực phức tạp như đất đai, xây dựng, quy hoạch, tài chính và công nghệ số.
Đặc biệt, sau khi sắp xếp bộ máy, nguồn cán bộ chuyên môn có kinh nghiệm phải được bố trí cho nhiều địa bàn, làm cho lực lượng chuyên môn ở một số nơi trở nên mỏng trong khi trách nhiệm lại lớn hơn. Một nghịch lý là: quyền đã được trao và đầu mối trung gian đã giảm, nhưng thời gian giải quyết công việc chưa giảm tương ứng, thậm chí cán bộ cấp xã đang phải gồng mình nhiều hơn, họp nhiều hơn khi gặp những vấn đề vượt quá năng lực chuyên môn hoặc thiếu dữ liệu để quyết định. Điều này cho thấy phân quyền thực chất không thể chỉ là chuyển giao thẩm quyền và trách nhiệm; phải đồng thời chuyển giao và củng cố nguồn lực, nhân lực, dữ liệu, hạ tầng số và công cụ thực thi. Nếu không, điểm nghẽn của hệ thống có nguy cơ chỉ dịch chuyển từ cấp trên xuống cấp cơ sở, thay vì thực sự được tháo gỡ.
Nghị quyết của Đảng và pháp luật luôn nhắc đến việc khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, nhưng trong thực tế, lựa chọn an toàn nhất vẫn là “pháp luật quy định đến đâu, làm đến đó”. Trong khi đó, bản chất của sáng tạo là phải tìm cách làm khác với quy trình hiện hành hoặc xử lý những vấn đề mới mà pháp luật chưa kịp quy định.
Nút thắt nằm ở rủi ro pháp lý của người ra quyết định: họ có thể biết một cách làm mới sẽ đáp ứng thực tiễn tốt hơn, nhưng vẫn lo rằng khi thanh tra, kiểm toán, họ vẫn phải trả lời câu hỏi: căn cứ nào, quy định nào, ai cho phép? Nếu phải chờ đến khi xem xét không tham nhũng, không vụ lợi để được miễn hoặc giảm trách nhiệm thì sự nghiệp cũng chẳng còn. Pháp luật mới chỉ là lời hứa “bảo vệ sau khi rủi ro đã xảy ra” mà không có “hành lang pháp lý bảo vệ sáng tạo trước khi hành động”, chưa có cơ chế để sáng tạo ngoài các khuôn khổ pháp lý quy định.
Có thể thấy rằng đầu tư vào hạ tầng và nền tảng số trong giai đoạn hiện nay đóng vai trò vô cùng quan trọng, thậm chí còn cấp bách hơn cả hạ tầng giao thông để công cuộc chuyển đổi có đường cao tốc, có phương tiện vận chuyển hiện đại đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới.
Khi cùng một chính sách nhưng kết quả khác nhau: năng lực thực thi trở thành yếu tố quyết định. Giải ngân đầu tư công là ví dụ. Đến hết tháng 8/2026, có 9 bộ, cơ quan trung ương và 19 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt trên mức bình quân chung cả nước, trong khi đó có 24 bộ, cơ quan trung ương và 15 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới bình quân chung cả nước. Hà Nội có quy mô đầu tư công đứng đầu cả nước, giải phóng mặt bằng phức tạp, khó nhất cả nước, song tiến độ giải ngân đầu tư công lại đang dẫn đầu cả nước.
Như vậy, nguyên nhân chậm giải ngân không phải là quy mô giải ngân lớn hay những vướng mắc khách quan như giải phóng mặt bằng, điều kiện thi công mà phụ thuộc rất lớn vào năng lực thực thi của địa phương. Nhìn rộng hơn, nhiều khoảng cách giữa chủ trương và kết quả thực tế hiện nay cho thấy điểm nghẽn đang dịch chuyển từ thể chế chính sách sang điểm nghẽn về năng lực tổ chức thực thi chính sách.
Con đường phía trước không chỉ xem xét đột phá trong từng chính sách mà còn cần đặt mỗi chính sách trong môi trường thể chế đồng bộ, cùng với các điều kiện vận hành được kết nối liên thông với nhau để tạo ra đột phá phát triển thực tế. Đó chính là bước chuyển từ đổi mới chính sách sang đổi mới một hệ điều hành phát triển mới.
(*) GS. TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam.
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 39-2026 phát hành ngày 28/09/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-39-2026.html
Để đảm bảo phù hợp với yêu cầu thực tiễn và quá trình phát triển của đất nước cũng như thể chế hóa quan điểm của Đảng và Chính phủ, bên cạnh việc kế thừa quy định tại Luật Nhà ở 2023, dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) đã chỉnh lý, bổ sung nhiều điểm mới…
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu khắc phục những bất cập trong quản lý, mua sắm thuốc và thiết bị y tế, cắt giảm các khâu trung gian, kiểm soát giá nhằm bảo vệ quyền lợi người bệnh, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và Quỹ Bảo hiểm y tế.
Chiều 21/10 (giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đến thủ đô Brussels, bắt đầu chuyến thăm chính thức Liên minh châu Âu (EU) và Vương quốc Bỉ, tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác với các đối tác quan trọng tại châu Âu.
Sau 55 năm quan hệ ngoại giao, Việt Nam và Đan Mạch nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện, mở rộng hợp tác xanh, công nghệ và thương mại. Tại Đại học Copenhagen, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu tầm nhìn và hướng đi để hai nước cùng kiến tạo giá trị trong giai đoạn mới.
Trưa 21/10 (giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời thủ đô Copenhagen kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới Vương quốc Đan Mạch...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Với mục tiêu hoàn thành trong tháng 11 hoặc chậm nhất vào cuối tháng 12/2026, các nhà thầu thi công tuyến đường gần 1.500 tỷ đồng tại Thanh Hóa đang tăng cường nhân lực, máy móc, tổ chức nhiều mũi thi công đồng thời để đẩy nhanh tiến độ dự án.