Tại chương trình giao lưu trực tuyến “Chế
độ thai sản và ốm đau cho người lao động, giải đáp các tình huống thực tế về hồ
sơ, thủ tục và thời gian nhận tiền trợ cấp”, do Bảo hiểm xã hội TP. Hà Nội tổ chức ngày 26/3, các chuyên gia đã thông tin nhiều nội dung liên quan đến quyền lợi bảo hiểm xã hội của người lao động.
Theo ông Nguyễn Công Định, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội TP. Hà Nội, chế
độ thai sản và ốm đau là hai chế độ liên quan trực tiếp đến quyền lợi “sát sườn”
của người lao động và thường xuyên được sử dụng trong thực tế.
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025 quy định một số điểm mới về chế độ thai sản và ốm
đau. Chế độ ốm đau được
quy định chi tiết và linh hoạt hơn.
Theo đó, Luật đã giải quyết được những
vướng mắc thực tế về việc nghỉ không trọn ngày. Đây là quy định rất nhân văn, nếu
người lao động nghỉ việc dưới nửa ngày thì tính là nửa ngày; từ nửa ngày đến dưới
một ngày thì tính là một ngày. Mức hưởng nửa ngày bằng một nửa mức hưởng của một
ngày.
Bên cạnh đó, Luật cũng điều chỉnh chế độ ốm
đau dài ngày. Người lao động mắc bệnh cần điều trị dài ngày sau khi hết thời hạn
hưởng chế độ ốm đau thông thường (30-70 ngày tùy điều kiện), mà vẫn tiếp tục điều trị thì vẫn được
hưởng trợ cấp với mức thấp hơn (từ 50% - 65% tiền lương tùy thời gian đóng bảo hiểm xã hội).
Thông tin cụ thể hơn về điều kiện hưởng chế độ ốm
đau đối với người lao động, ông Bùi Anh Tuấn, Phó Trưởng phòng Chế độ bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm xã hội Hà Nội, cho biết theo
quy định tại Luật Bảo hiểm xã
hội năm 2024, điều
kiện để người lao động hưởng chế độ ốm đau đó là: Điều trị khi mắc bệnh mà
không phải bệnh nghề nghiệp; điều trị khi bị tai nạn mà không phải là tai nạn lao động.
Điều trị khi bị tai nạn khi đi từ
nơi ở đến nơi làm việc,
hoặc từ nơi làm việc về nơi ở theo tuyến đường và thời gian hợp lý theo quy định
của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
Điều trị, phục hồi chức năng lao
động khi thương tật, bệnh tật tái phát do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người
theo quy định của pháp luật; chăm
sóc con dưới 7 tuổi bị ốm đau.
Mức hưởng trợ cấp ốm đau được
tính theo tháng và tính trên căn cứ sau đây: Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của tháng gần nhất
trước tháng nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau.
Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm
xã hội của tháng đầu tiên tham gia bảo hiểm xã hội, hoặc tháng tham gia trở lại nếu phải
nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau ngay trong tháng đầu tiên tham gia, hoặc tháng tham gia trở lại.
Căn cứ quy định của Luật, thời gian tối đa người lao động
được nghỉ ốm đau hưởng chế độ
bảo hiểm xã hội như sau:
Nếu làm việc trong điều kiện bình thường:
30 ngày/năm khi đóng
bảo hiểm xã hội dưới 15
năm; 40 ngày/năm khi đóng đủ 15
năm - dưới 30 năm; 60 ngày/năm khi đóng đủ 30 năm trở lên.
Nếu làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc,
độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (cũ) ban hành, hoặc làm việc ở vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian nghỉ như sau:
40 ngày/năm: Đóng bảo hiểm xã hội
dưới 15 năm; 50 ngày/năm: Đóng đủ 15 năm - dưới 30 năm; 70 ngày/năm: Đóng đủ 30 năm trở lên.
Sau khi hết thời hạn hưởng chế độ ốm đau nêu trên, mà vẫn tiếp tục điều trị, thì người lao
động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ trưởng
Bộ Y tế ban hành, được
hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn được quy định.
Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm
đau này tính theo ngày làm việc,
không kể ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần.
Về thời hạn giải quyết hưởng trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi ốm đau, Điều 49 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định: Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày người lao động nghỉ việc hưởng trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau, người sử dụng lao động lập danh sách người lao động nghỉ việc hưởng trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe và nộp cho cơ quan Bảo hiểm xã hội.
Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận danh sách do người sử dụng lao động lập, cơ quan Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.