Thúc đẩy hình thành các trung tâm công nghiệp - dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng
CChu Khôi
Chọn cỡ chữ
Việt Nam đang nghiên cứu phát triển các trung tâm công nghiệp - dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng điện gió, điện mặt trời và thúc đẩy hình thành chuỗi cung ứng công nghiệp xanh trong nước. Với vai trò kết nối sản xuất điện, chế tạo thiết bị, hạ tầng cảng biển, logistics và đào tạo nhân lực, mô hình này được kỳ vọng tạo động lực mới cho chuyển dịch năng lượng và công nghiệp xanh...
Quang cảnh hội thảo "Thúc đẩy phát triển Trung tâm Năng lượng tái tạo tại Việt Nam”. Ảnh: GIZ.
Chiều 8/9/2026, tại Hà Nội, Cục Điện lực (Bộ Công
Thương) phối hợp với Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) tổ chức Hội thảo “Thúc đẩy
phát triển Trung tâm Năng lượng tái tạo tại Việt Nam”. Sự kiện nằm trong khuôn khổ Dự án
“Thúc đẩy chuyển dịch ngành năng lượng tại Việt Nam - TEV” do Chính phủ Đức tài
trợ.
ĐỘNG LỰC MỚI CHO CHUYỂN DỊCH NĂNG LƯỢNG VÀ CÔNG NGHIỆP
XANH
Phát biểu khai mạc, ông Tăng Thế Hùng, Phó Cục trưởng
Cục Điện lực, cho biết trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng
và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, phát triển năng lượng
tái tạo không chỉ dừng ở việc mở rộng công suất nguồn điện mà còn phải gắn với
phát triển công nghiệp, hạ tầng, chuỗi cung ứng, khoa học công nghệ và nguồn
nhân lực.
Ông Tăng Thế Hùng: "Phát triển năng lượng tái tạo không chỉ dừng ở việc mở rộng công suất nguồn điện...". Ảnh: GIZ.
Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050 (Quy hoạch điện 8 điều chỉnh) đã định hướng xây dựng các trung tâm công nghiệp - dịch vụ năng lượng tái tạo liên
vùng tại những khu vực có tiềm năng lớn nhằm gắn phát triển năng lượng tái tạo
với công nghiệp hỗ trợ và nội địa hóa chuỗi giá trị. Việc nghiên cứu và từng bước
hình thành các trung tâm này sẽ góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng năng lượng
tái tạo, thúc đẩy phát triển công nghiệp và hỗ trợ quá trình chuyển dịch năng
lượng quốc gia.
Đồng quan điểm, bà Christiana Hageneder, Giám đốc
Chương trình Hỗ trợ Năng lượng của GIZ, cho biết GIZ đang phối hợp với các đối
tác Việt Nam thực hiện nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu và bằng chứng phục
vụ quá trình hoạch định chính sách. Nghiên cứu sẽ đánh giá năng lực hiện có,
khoảng trống về hạ tầng cũng như các yêu cầu pháp lý, tài chính cần thiết để
triển khai mô hình trung tâm năng lượng tái tạo.
Bà Christiana Hageneder, Giám đốc Chương trình Hỗ trợ Năng lượng của GIZ. Ảnh: GIZ.
Các trung tâm năng lượng tái tạo có thể giúp Việt Nam nâng cao năng lực công nghiệp trong nước, tạo giá trị gia tăng từ quá trình chuyển dịch năng lượng, đồng thời cải thiện khả năng tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng năng lượng tái tạo khu vực và toàn cầu.
Định hướng trong Quy hoạch điện
8 điều chỉnh nêu rõ, đến năm 2030 Việt Nam dự kiến hình thành hai trung tâm công
nghiệp - dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng. Nhu cầu phát triển các trung tâm
năng lượng tái tạo xuất phát từ triển vọng tăng trưởng rất lớn của các nguồn điện
xanh trong những thập kỷ tới.
Theo kịch bản quy hoạch, đến năm 2050, công suất
điện gió trên bờ và gần bờ có thể đạt từ 84.696 - 91.400 MW, điện gió ngoài khơi
đạt từ 113.503 - 139.097 MW, điện mặt trời (điện mặt trời tập trung và điện mặt trời mái nhà) đạt khoảng 293.088 - 295.646
MW. Các loại hình như điện sinh khối, điện rác, thủy điện tích năng và hệ thống
lưu trữ năng lượng bằng pin cũng sẽ được mở rộng đáng kể.
Đại diện Cục Điện lực nhấn mạnh rằng trung tâm công nghiệp - dịch vụ năng lượng tái tạo cần được phát triển theo mô hình tích hợp, kết nối toàn bộ chuỗi giá trị từ phát điện sạch, chế tạo cơ khí phụ trợ, logistics cảng biển đến dịch vụ vận hành - bảo dưỡng, khu công nghiệp xanh và đào tạo nguồn nhân lực.
ĐỀ XUẤT HAI CỤM CẢNG NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO TRỌNG ĐIỂM
Tuy nhiên, quá trình hiện thực hóa các trung tâm năng
lượng tái tạo liên vùng cũng đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là hạ tầng
cảng biển phục vụ điện gió ngoài khơi. Các cấu kiện của ngành này có kích thước
rất lớn, với tháp thép, móng giàn và tuabin có thể nặng tới 2.500 tấn. Điều này
đòi hỏi hệ thống cảng biển phải đáp ứng các yêu cầu khắt khe về độ sâu luồng
hàng hải, tải trọng nền cảng, diện tích lắp ráp và khả năng tiếp nhận tàu
chuyên dụng.
Theo tính toán, nền cảng và cầu bến phải chịu tải trọng
từ 15-25 tấn/m2, trong khi diện tích lắp ráp điện gió ngoài khơi cần khoảng 30
ha cho mỗi GW công suất. Suất đầu tư hạ tầng thô cho bãi cảng có thể lên tới
khoảng 1 tỷ Euro trên diện tích 100 ha. Đây là những yêu cầu đòi hỏi nguồn vốn
rất lớn cùng sự tham gia của các mô hình hợp tác công - tư và các cơ chế hỗ trợ
dài hạn.
Quang cảnh hội thảo. Ảnh: GIZ.
Về định hướng không gian phát triển, hai cụm cảng công nghiệp năng lượng tái tạo trọng điểm được đề xuất gồm cụm phía Nam tại khu vực Vũng Tàu - Bình Thuận - Ninh Thuận và cụm phía Bắc tại Hải Phòng - Quảng Ninh.
Khu vực phía Nam có lợi thế về hạ tầng dầu khí, cảng nước sâu và kinh nghiệm cơ
khí ngoài khơi, phù hợp phát triển chế tạo cấu kiện điện gió ngoài khơi và các
dịch vụ vận hành, bảo dưỡng. Trong khi đó, khu vực phía Bắc có thế mạnh về công
nghiệp thép, cơ khí chế tạo và hệ thống cảng biển, tạo điều kiện hình thành các
tổ hợp công nghiệp hỗ trợ quy mô lớn.
Tại hội thảo, các chuyên gia trong nước và quốc tế đã
chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tiễn về phát triển các trung tâm năng lượng tái
tạo. Để hình thành hệ sinh thái sản xuất thiết bị năng lượng tái tạo trong nước,
các chuyên gia nhấn mạnh sự cần thiết của các cam kết chính sách dài hạn. Theo
đó, cần xây dựng danh mục dự án ổn định trong thời gian từ 10-25 năm nhằm tạo
niềm tin cho các nhà sản xuất thiết bị; thúc đẩy cơ chế mua bán điện trực tiếp
(DPPA) và phát triển các khu năng lượng tái tạo tập trung; đồng thời triển khai
chính sách nội địa hóa theo lộ trình phù hợp để khuyến khích đầu tư sản xuất
trong nước.
Đại diện Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) cho biết Việt Nam đã có nền tảng đáng kể từ ngành dầu khí và công nghiệp biển như
chế tạo kết cấu thép, công trình ngoài khơi, cảng biển, logistics và nguồn nhân
lực kỹ thuật. Đây là cơ sở quan trọng để từng bước hình thành hệ sinh thái điện
gió ngoài khơi trong nước.
Các chuyên gia đến từ Đức, Trung Quốc, Vương quốc Anh
và Đan Mạch cũng giới thiệu nhiều mô hình thành công. Kinh nghiệm của Cuxhaven
(Đức) cho thấy vai trò của đầu tư dài hạn và phát triển đồng bộ cảng biển, quỹ
đất công nghiệp và logistics. Trong khi các cụm công nghiệp Dương Giang và Sán Đầu (Trung
Quốc) minh chứng cho hiệu quả của mô hình tích hợp từ chế tạo, nghiên cứu phát
triển, thử nghiệm đến đào tạo nhân lực và vận hành cảng biển.
Tại Vương quốc Anh, Grimsby và Humber nổi bật với giá trị kinh tế lâu dài từ hoạt
động vận hành, bảo dưỡng điện gió ngoài khơi. Còn Esbjerg (Đan Mạch) là ví dụ
điển hình về chuyển đổi hạ tầng cảng và năng lực dầu khí hiện hữu sang phục vụ
ngành điện gió ngoài khơi.
Việt Nam nằm trong nhóm địa điểm ưu tiên tại Đông Nam Á được xem xét thiết lập trạm giám sát khí quyển đối với các chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal, trong bối cảnh cộng đồng quốc tế chuẩn bị thảo luận về nguồn lực và các cơ chế thực thi giai đoạn tiếp theo...
Trước áp lực biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, việc đưa Luật Tài nguyên nước vào thực tiễn đòi hỏi đổi mới tư duy quản trị, nâng cao năng lực dự báo, điều hòa, phân phối nguồn nước. Ứng dụng công nghệ số, hiện đại hóa vận hành hồ chứa và kết nối các công trình thủy lợi được xác định là những giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước...
Chuyên gia cho rằng Luật Khí tượng thủy văn sửa đổi cần được thiết kế trên toàn bộ chuỗi từ quan trắc đến truyền nhận tin và những quản lý dữ liệu đến phân tích, giám sát biến đổi khí hậu, đến dự báo cảnh báo, cung cấp thông tin, dịch vụ khí tượng thủy văn, dịch vụ khí hậu và hỗ trợ ra quyết định. Trong đó, dự báo dựa trên tác động và dịch vụ khí hậu là hai hướng phát triển quan trọng...
Đề xuất quy định cụ thể nguồn khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường phục vụ hoạt động điều phối, mạng lưới điều phối nguồn vật liệu, cơ chế điều phối nguồn vật liệu... sẽ tạo hành lang pháp lý quan trọng để giải quyết vấn đề điều phối nguồn vật liệu phục vụ các dự án, đặc biệt các dự án trọng điểm...
Cùng với việc kiểm soát chặt các nguồn phát thải bụi và khí thải từ xây dựng, đốt rác, phụ phẩm nông nghiệp, giảm phát thải từ giao thông, Hà Nội sẽ sử dụng kết quả quan trắc, dự báo khí tượng và dự báo chất lượng không khí để chủ động khuyến cáo, triển khai biện pháp phòng ngừa, ứng phó từ sớm, trước 5-7 ngày khi có tín hiệu nguy cơ ô nhiễm...
Xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là một chiến lược dài hạn, đòi hỏi sự chuyển đổi đồng bộ từ tư duy phát triển, mô hình quản trị đến cách khai thác và sử dụng nguồn lực biển.
Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...
Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...