
Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) mới đây đã có thông báo nhằm “nói lại cho rõ” về chính sách giá than áp dụng cho năm 2011, một vấn đề đang gây nhiều thắc mắc từ những ngành sản xuất sử dụng nhiều than.
Theo TKV, việc tăng giá than không phải là quyết định riêng của tập đoàn này, mà chỉ là việc thực hiện nghiêm túc một chủ trương đã được Chính phủ đưa ra từ ba năm trước.
Cụ thể, theo Thông báo số 244/TB-VPCP ngày 11/8/2009 của Văn phòng Chính phủ về giá bán than ở thị trường trong nước thì giá than cho các hộ xi măng, giấy, phân bón được áp dụng ở mức thấp hơn giá xuất khẩu tối đa là 10%.
Trong khi đó, giá than ở thị trường trong nước trước 31/3/2011 chỉ bằng khoảng 60% giá than xuất khẩu, giá than bán cho các hộ xi măng, giấy, phân bón chỉ bằng khoảng 50% giá than xuất khẩu. Nguyên nhân là do việc kiềm chế lạm phát trong năm 2010 đã khiến giá than cho các hộ xi măng, giấy, phân bón đã không được điều chỉnh, trong khi giá cả đầu vào tăng cao.
Hiện nay, do giá cả đầu vào tăng cao, chẳng hạn xăng dầu tăng khoảng 40%, tỷ giá tăng 9,3%, lãi vay tăng cao, thuế xuất khẩu than tăng từ 10% lên 15%,... đã làm tăng giá thành than khoảng 3500 tỷ đồng, thuế xuất khẩu làm tăng 1300 tỷ đồng. Nếu giá than không được điều chỉnh thì tình hình tài chính của TKV sẽ gặp khó khăn.
TKV đã xây dựng phương án giá bán than ở thị trường trong nước gửi đăng ký Bộ Tài chính vào ngày 3/3/2011 và giá bán than cho sản xuất xi măng, giấy, phân bón vào ngày 04/3/2011. Theo đó, nếu tính theo nguyên tắc bằng 90% giá xuất khẩu thì giá than sẽ tăng khoảng 55%. Để không làm tăng đột biến giá than trong nước, TKV đã đề nghị bước 1 điều chỉnh tăng từ 20-40% tuỳ từng chủng loại than.
Ngày 24/3/2011 Bộ Tài chính đã có văn bản đồng ý và đó là cơ sở để TKV điều chỉnh giá than thị trường trong nước áp dụng từ 1/4/2011.
TKV cũng cho biết, để đảm bảo nhu cầu than cho nền kinh tế đến năm 2015 cần khoảng 60 triệu tấn than sạch, trong đó nhiệm vụ của TKV là phấn đấu đạt khoảng 55 triệu tấn. Năm 2010, TKV sản xuất 41 triệu tấn than sạch từ nguyên khai thì đến năm 2015 tăng thêm 14 triệu tấn than sạch, tương đương 16 triệu tấn than nguyên khai.
Để bù đắp chi phí đầu vào thì giá than phải tăng khoảng 14-15%/năm, riêng năm 2011 thì mức tăng sẽ cao hơn do giá cả đầu vào tăng cao hơn. Trong khi giá than cho các hộ xi măng, giấy, phấn bón mới tăng bình quân 20-40% thì cũng chỉ bù đắp chi phí đầu vào tăng thêm trong năm 2010 và đầu năm 2011.
Trước những ý kiến cho rằng giá thành than hiện nay cao là do TKV độc quyền, TKV cho rằng từ năm 2001, Ban Vật giá Chính phủ đã được giao chủ trì phối hợp với Bộ Công nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Tổng công ty than Việt Nam và các cơ quan liên quan tính toán xác định giá bán than cho các ngành điện, xi măng, giấy, phân bón. Từ đó, hàng năm TKV xây dựng giá thành và báo cáo các bộ xem xét, thẩm định làm cơ sở xây dựng giá bán than.
Phân bón giả, kém chất lượng không chỉ gây thiệt hại cho người nông dân, mà còn làm méo mó môi trường cạnh tranh, ảnh hưởng uy tín doanh nghiệp chân chính. Tăng cường kiểm soát từ sản xuất đến lưu thông, phối hợp giữa cơ quan quản lý, lực lượng chức năng, hiệp hội và doanh nghiệp là yêu cầu cấp thiết để làm sạch thị trường...
Tiêu dùng bền vững không dừng lại ở lời kêu gọi mang tính đạo đức hay ý thức bảo vệ môi trường đơn thuần, mà đang trở thành động lực cốt lõi định hình lại mô hình tăng trưởng kinh tế. Sự chuyển dịch chiến lược này đòi hỏi sự kết nối chặt chẽ từ thể chế chính sách của Nhà nước, trách nhiệm thực chất từ cộng đồng doanh nghiệp đến hành động cụ thể của từng người dân...
Du lịch mua sắm đang trở thành động lực quan trọng nhằm gia tăng mức chi tiêu, kéo dài thời gian lưu trú của du khách và mở rộng đầu ra cho hàng hóa Việt Nam…
Sau 6 kỳ tăng liên tiếp, giá các mặt hàng xăng và dầu điêzen trong nước đã đồng loạt quay đầu giảm từ chiều 15/10, trong đó xăng E10RON95 giảm mạnh nhất tới 1.225 đồng/lít. Ngược lại, mặt hàng dầu madút 180CST 3.5S tăng 1.043 đồng/kg…
AI đang tái cấu trúc nền kinh tế toàn cầu, biến thương hiệu từ một công cụ truyền thông thuần túy trở thành tài sản chiến lược cốt lõi. Để thoát khỏi bẫy gia công giá trị thấp và chinh phục thị trường trong thời đại AI, các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải chuyển đổi tư duy, lấy dữ liệu và công nghệ làm bệ phóng tăng trưởng...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Thực tế, sau 9 tháng năm 2026, dù kinh tế ghi nhận nhiều kết quả tích cực, chỉ có 12/34 tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng hai con số. Bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà còn là nâng cao năng lực thực thi và chuyển hóa nguồn lực thành giá trị thực chất.