Nghị định này quy định về trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon với đối tác quốc tế nhằm thực hiện Thỏa thuận Paris thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu..
Theo Nghị định, việc trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon phải bảo đảm tuân thủ quy định của Thỏa thuận Paris; hỗ trợ phát triển, chuyển giao công nghệ giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế carbon thấp tại Việt Nam.
Về tỷ lệ chuyển giao, Nghị định được thiết kế theo hướng vừa thu hút đầu tư, vừa đảm bảo thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính quốc gia. Theo đó, danh mục các hoạt động giảm phát thải được phân loại cụ thể gắn với giới hạn tỷ lệ chuyển giao.
Nhóm các biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính công nghệ mới, chi phí cao, chưa hoặc ít được triển khai tại Việt Nam, tỷ lệ chuyển giao tối đa đến 90%.
Cụ thể, tỷ lệ 90% đối với các chương trình, dự án theo các biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính như điện địa nhiệt, điện gió ngoài khơi, điện mặt trời không nối lưới, dưới 15MW; năng lượng sóng, thủy triều, sản xuất hydrogen xanh, amoniac xanh, khí sinh học metan...
Bên cạnh đó là ứng dụng công nghệ thu hồi, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) hoặc công nghệ thu hồi lưu trữ carbon (CCS) trong quá trình công nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng và năng lượng; thu giữ CO2 trực tiếp từ không khí; xử lý chất thải bằng phương pháp đốt (có phát điện); thu hồi và sử dụng khí từ bãi chôn lấp; sản xuất nhiên liệu sinh học…
Nhóm các biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính đã được triển khai Việt Nam cần thêm sự hỗ trợ về tài chính, công nghệ, tỷ lệ chuyển giao tối đa đến 50%.
Tỷ lệ chuyển giao là 50% đối với các chương trình, dự án theo các biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính như: nhiệt điện khí chu trình hỗn hợp sử dụng LNG nhập khẩu; điện sinh khối; các dự án năng lượng tái tạo và các dự án sử dụng hiệu quả năng lượng đã được đăng ký theo cơ chế JCM hoặc được chấp thuận chuyển đổi từ Cơ chế phát triển sạch (CDM) sang cơ chế Điều 6.4; điện gió gần bờ;
Trường hợp chuyển giao quốc tế không điều chỉnh tương ứng, tỷ lệ chuyển giao tối đa là 90% lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được cấp cho một giai đoạn tạo kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon đối với tất cả chương trình, dự án.
Lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon còn lại sau khi chuyển giao quốc tế được phép sử dụng để trao đổi trong nước.
Nghị định cũng quy định rõ cơ chế quản lý nguồn thu. Với các dự án đầu tư công, việc bán tín chỉ carbon phải được cơ quan chủ quản quyết định và lấy ý kiến các bộ liên quan. Đối với các dự án đối tác công – tư (PPP), nguồn thu từ tín chỉ carbon được tính vào doanh thu dự án và có thể điều chỉnh trong phương án tài chính.
Việc ban hành Nghị định 112 được đánh giá là bước đi quan trọng để Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường carbon toàn cầu, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn tài chính xanh và công nghệ giảm phát thải trong giai đoạn tới.




Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đặng Hồng Hạnh, Đồng sáng lập kiêm Giám đốc Điều hành VNEEC, cho rằng bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp lý, Việt Nam cần sớm làm rõ quyền sở hữu tín chỉ carbon, xây dựng hệ thống đăng ký có khả năng kết nối với các thị trường quốc tế, đồng thời tăng cường năng lực cho doanh nghiệp và các bên tham gia. Đây là những điều kiện quan trọng để hình thành một thị trường carbon minh bạch, hiệu quả, góp phần thu hút nguồn lực cho chuyển đổi xanh và thực hiện các cam kết giảm phát thải của Việt Nam.
Từ một cộng đồng sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt, Tanmen ở tỉnh Hải Nam đang mở rộng sinh kế bằng du lịch biển, câu cá giải trí, trải nghiệm văn hóa và bảo tồn di sản hàng hải. Câu chuyện của Tanmen cho thấy một hướng đi đáng chú ý của kinh tế biển xanh: không chỉ khai thác tài nguyên biển mà còn gia tăng giá trị từ văn hóa, tri thức và đời sống của cộng đồng ven biển…
Việt Nam đang có tiềm năng lớn về trữ lượng dầu mỏ. Thậm chí, với những nguồn mỏ dầu khí đang cạn kiệt còn mở ra cơ hội lưu trữ carbon. Tận dụng tốt các nguồn mỏ này sẽ tạo ra CCS, Carbon Capture & Storage – một thị trường mới đầy tiềm năng, quy mô hàng chục tỷ USD.
Đơn giản hóa khả năng tiếp cận các nguồn tài chính quốc tế về khí hậu và đất đai, phát triển các công cụ giảm thiểu rủi ro để khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư; xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế minh bạch, có tính toàn vẹn cao đối với thị trường carbon và dịch vụ hệ sinh thái, tạo nền tảng để huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực...
Rosatom đang chuyển từ cách xây dựng từng nhà máy điện hạt nhân riêng lẻ sang mô hình tiêu chuẩn hóa, sản xuất và lắp ráp các tổ máy theo dây chuyền. Nga kỳ vọng cách tiếp cận này sẽ rút ngắn thời gian xây dựng, giảm chi phí và tạo lợi thế mới cho Rosatom trong cuộc đua giành các dự án điện hạt nhân trên toàn cầu…
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Việt Nam đang có tiềm năng lớn về trữ lượng dầu mỏ. Thậm chí, với những nguồn mỏ dầu khí đang cạn kiệt còn mở ra cơ hội lưu trữ carbon. Tận dụng tốt các nguồn mỏ này sẽ tạo ra CCS, Carbon Capture & Storage – một thị trường mới đầy tiềm năng, quy mô hàng chục tỷ USD.