Kế hoach khởi công đồng loạt nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng và hoàn thiện mạng lưới đường sắt đô thị dài 355 km vào năm 2035.
Dân số TP.HCM hiện đạt xấp xỉ 10 triệu người, cùng khoảng 3 triệu dân lao động từ các tỉnh và vãng lai mỗi ngày, tạo ra áp lực khổng lồ cho hạ tầng giao thông vốn đã quá tải. Sự phụ thuộc vào xe máy cá nhân chiếm trên 80% chuyến đi đã khiến kẹt xe, ô nhiễm và tai nạn giao thông trở thành vấn nạn kéo dài.
TP.HCM từ nhiều năm nay đã nhận diện rõ áp lực hạ tầng giao thông do dân số tăng nhanh, xe cá nhân dày đặc, khiến tình trạng ùn tắc kéo dài và ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng. Chính quyền thành phố đã nhiều lần khẳng định rằng phát triển metro là chìa khóa giải quyết gốc rễ vấn đề; trong đó, metro được xác định là lời giải chiến lược, thay thế dần phụ thuộc vào xe máy và ô tô cá nhân.
Trong giai đoạn 2027, thành phố dự kiến khởi công đồng loạt 9 tuyến metro với tổng chiều dài khoảng 355 km. Đó là các tuyến: tuyến số 1 (Bến Thành - An Hạ, kéo dài đến Bình Dương), tuyến số 2 (Bến Thành - Tham Lương - Củ Chi, kéo dài đến Thủ Dầu Một), tuyến số 3 (Hiệp Bình Phước - An Hạ), tuyến số 4 (Đông Thạnh - Tân Sơn Nhất - Bến Thành - Hiệp Phước), tuyến số 5 (Long Trường - xa lộ Hà Nội - cầu Sài Gòn ngã tư Bảy Hiền - depot Đa Phước), tuyến số 6 (Vành đai trong), tuyến số 7 (Tân Kiên - Thủ Thiêm - Vinhomes Grand Park), cùng các đoạn mở rộng thuộc tuyến số 1 và số 2. Ngoài ra còn có đề xuất tuyến mới kết nối trung tâm TP.HCM với huyện Cần Giờ, đang thu hút doanh nghiệp lớn quan tâm.
Cụ thể như sau:
Tuyến số 1 Bến Thành - An Hạ, kéo dài đến Bình Dương cũ: Ngoài việc nối trung tâm quận 1 (cũ) với phía tây bắc thành phố, còn mở rộng ra khu vực thành phố mới Bình Dương, hình thành trục liên kết vùng quan trọng.
Tuyến số 2 Bến Thành - Tham Lương - Củ Chi, kéo dài đến Thủ Dầu Một: Đi qua quận 10, Tân Bình, Tân Phú cũ, góp phần giải tỏa lưu lượng giao thông dày đặc trên các tuyến đường Trường Chinh, Cách Mạng Tháng Tám.
Tuyến số 3 Hiệp Bình Phước - An Hạ: Hướng tới giảm tải cho quốc lộ 13 và quốc lộ 1, vốn là các trục huyết mạch ra vào thành phố.
Tuyến số 4 Đông Thạnh - Tân Sơn Nhất - Bến Thành - Hiệp Phước: Là tuyến xuyên tâm có ý nghĩa chiến lược, kết nối sân bay Tân Sơn Nhất, trung tâm thành phố và khu công nghiệp Hiệp Phước.
Tuyến số 5 Long Trường - xa lộ Hà Nội - cầu Sài Gòn ngã tư Bảy Hiền - depot Đa Phước: Là tuyến hỗ trợ hành lang Đông - Tây kết nối với xa lộ Hà Nội và quốc lộ 1.
Tuyến số 6 Vành đai trong: Là tuyến đóng vai trò phân luồng, liên kết các tuyến metro khác, giảm áp lực cho khu vực nội đô.
Tuyến số 7 Tân Kiên - Thủ Thiêm - Vinhomes Grand Park: Nhằm phục vụ kết nối khu đô thị mới Thủ Thiêm với khu nam và khu đông đang phát triển mạnh.
Các đoạn mở rộng của tuyến 1 và 2: kết nối với Bình Dương đến Thủ Dầu Một (hiện nay là TP.HCM), gia tăng phạm vi ảnh hưởng của hệ thống metro TP.HCM.
Tổng vốn đầu tư sơ bộ cho toàn bộ hệ thống khoảng 44 tỷ USD. Nguồn lực sẽ được huy động đa dạng từ ngân sách nhà nước, vốn ODA, đối tác công tư (PPP) đến việc khai thác quỹ đất và phát triển đô thị theo mô hình TOD. Hiện nay, Thành phố đang hoàn thiện đề án huy động vốn nhằm xác định lộ trình rõ ràng, bảo đảm tính minh bạch và khả thi lâu dài.
Các nhiệm vụ trọng tâm đã được đặt ra: giải phóng mặt bằng và tái định cư; lập báo cáo nghiên cứu khả thi và thiết kế kỹ thuật cho toàn bộ 9 tuyến; giao Ban quản lý Đường sắt đô thị TP.HCM (MAUR) làm chủ đầu tư. Đồng thời, TP.HCM áp dụng cơ chế đặc thù theo các nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ để rút gọn thủ tục, tránh lặp lại tình trạng chậm trễ như các tuyến metro trước đây.
Kế hoạch khởi công đồng loạt 9 tuyến metro chỉ trong vòng hai năm tới được xem là đầy tham vọng. Thách thức lớn nhất chính là công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư vốn đã bộc lộ nhiều vướng mắc từ các dự án trước.
Đây là khâu nhạy cảm, đòi hỏi sự đồng thuận từ người dân, chính sách bồi thường hợp lý, cũng như việc di dời hạ tầng kỹ thuật điện, nước, viễn thông. Nếu tiến độ này chậm, toàn bộ kế hoạch sẽ bị ảnh hưởng dây chuyền.
Bên cạnh đó, nguồn vốn cũng là vấn đề không nhỏ. Dù đã vạch ra nhiều kênh huy động, nhưng bảo đảm tính ổn định, phân bổ đúng hạn, và kiểm soát rủi ro từ vốn vay quốc tế vẫn là bài toán phức tạp. Việc đồng bộ giữa các quy hoạch, tránh điều chỉnh liên tục cũng là điều kiện để dự án đạt hiệu quả.
Mặc dù vậy, các chuyên gia cho rằng lợi ích mang lại từ hệ thống metro được kỳ vọng sẽ vượt xa những khó khăn trước mắt. Khi hoàn thành, mạng lưới 355 km metro sẽ giúp giảm ùn tắc, tiết kiệm hàng tỷ USD chi phí xã hội do kẹt xe và ô nhiễm, đồng thời cải thiện mạnh mẽ chất lượng môi trường. Hệ thống metro cũng tạo cú hích phát triển đô thị theo mô hình TOD, nâng cao giá trị bất động sản và thu hút thêm đầu tư quốc tế.
Các lợi ích mà metro mang lại, trước hết về giao thông: giảm ùn tắc, rút ngắn thời gian di chuyển, hình thành văn hóa sử dụng phương tiện công cộng thay vì xe máy.
Về môi trường: giảm khí thải, tiếng ồn, góp phần cải thiện sức khỏe cộng đồng và hình ảnh thành phố xanh - sạch - sống tốt.
Về kinh tế: phát triển mạnh mẽ các trung tâm thương mại, khu đô thị mới quanh nhà ga metro theo mô hình TOD; giá trị bất động sản gia tăng; tạo hàng trăm nghìn việc làm trong giai đoạn xây dựng và vận hành.
Tính liên kết vùng: các tuyến mở rộng đến Bình Dương, Thủ Dầu Một hay Củ Chi sẽ biến metro TP.HCM thành mạng lưới liên tỉnh, thúc đẩy sự phát triển đồng đều giữa trung tâm và vùng ven.
Về tác động xã hội, metro sẽ giúp thay đổi thói quen sinh hoạt và di chuyển của người dân. Thay vì chọn sống gần trung tâm để tiện đi lại, nhiều người có thể chuyển ra vùng ven nhờ hệ thống metro kết nối nhanh chóng. Điều này giúp giãn dân, giảm áp lực dân số cho khu vực lõi đô thị, đồng thời mở ra không gian phát triển mới.
Quan trọng hơn, metro không chỉ là công trình hạ tầng mà còn là biểu tượng mới cho sự hiện đại hóa của TP.HCM. Sự thay đổi thói quen di chuyển từ xe cá nhân sang phương tiện công cộng sẽ định hình văn hóa giao thông văn minh, đồng thời góp phần đưa thành phố tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển bền vững, ngang tầm các đô thị lớn trong khu vực Châu Á.




Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong năm 2026, nền kinh tế phải tăng khoảng 11,9% trong nửa cuối năm, tuy nhiên, đây không chỉ là bài toán về tốc độ tăng trưởng mà còn là yêu cầu đồng thời kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao chất lượng tăng trưởng...
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động và Việt Nam bước vào giai đoạn triển khai các quyết sách mới về phát triển kinh tế, các chuyên gia, nhà hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp cùng tìm lời giải để thu hẹp khoảng cách từ chủ trương đến thực thi, tạo động lực cho tăng trưởng...
Cục Hàng không Việt Nam vừa báo cáo Bộ Xây dựng và Ban Chỉ đạo công tác chuẩn bị khai thác Cảng hàng không quốc tế Long Thành về phương án tổ chức khai thác giữa Cảng hàng không quốc tế Long Thành và Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, trong đó đề xuất chính thức đưa Long Thành vào khai thác từ ngày 1/12/2026 và thực hiện lộ trình chuyển đổi hoạt động theo ba giai đoạn...
Ngành hàng không Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong năm 2026 khi sản lượng vận chuyển hành khách và hàng hóa đều tăng so với cùng kỳ năm trước...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.