Vấn đề được nêu ra không chỉ định hình không gian vật lý của thành phố, mà còn ảnh hưởng sâu sắc tới chất lượng sống, thu hút đầu tư, sử dụng đất và khả năng cạnh tranh quốc tế của đô thị lớn nhất nước.
Trong những năm gần đây, TP.Hồ Chí Minh đã và đang điều chỉnh lại tư duy quy hoạch nhằm đáp ứng thực tiễn mới sau sáp nhập các địa bàn lân cận (Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu) và đặt mục tiêu trở thành đô thị hiện đại, năng động và kết nối vùng.
Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 của Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Phó chủ tịch UBND TP.Hồ Chí Minh Bùi Xuân Cường đã nhấn mạnh đến việc xây dựng không gian phát triển mới theo hướng đa ngành, thúc đẩy liên kết giữa các khu vực chức năng; đồng thời tháo gỡ những rào cản trong thể chế và hạ tầng, là bước đi quan trọng để tạo nền tảng cho mô hình đô thị tương lai.
TP.Hồ Chí Minh sở hữu diện tích rộng lớn sau sáp nhập (khoảng 6.772 km2) và là “siêu dô thị” có dân số cao nhất cả nước (trên 14 triệu người), một điểm khởi đầu thuận lợi để tính toán mô hình phát triển phù hợp. Nhiều chuyên gia nhận định, nếu chỉ đi theo mô hình đô thị nén, Thành phố có thể tạo ra các không gian sống mật độ cao, gần gũi với giao thông công cộng, thúc đẩy hiệu quả sử dụng đất và giảm thiểu nhu cầu di chuyển bằng phương tiện cá nhân.
Ở nhiều đô thị lớn trên thế giới, mô hình này được xem là “chuẩn mực” cho phát triển bền vững như tập trung vào các trục giao thông chính, giảm dần mật độ ra phía ven, và tối ưu hóa dịch vụ theo bán kính đi bộ. Ở TP.Hồ Chí Minh, các dự án phát triển theo mô hình TOD được định hướng xây dựng dọc các tuyến metro và các trục vành đai nhằm tăng mật độ và đa dạng chức năng quanh các điểm giao thông công cộng. Việc triển khai các khu đô thị nhỏ dọc tuyến metro số 1 và số 2 là minh chứng cho xu hướng này, với mục tiêu tận dụng quỹ đất gần trạm và giảm thiểu tình trạng phát triển lan man không kiểm soát.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy mô hình đô thị nén nếu được áp dụng thuần túy trên toàn địa bàn, có thể dẫn đến một số hạn chế lớn. TP.Hồ Chí Minh hiện nay chỉ mới kiểm soát được một phần kẹt xe và áp lực hạ tầng trong nội đô cũ, nhưng nếu mật độ phát triển ngày càng dày đặc hơn ở trung tâm thì khả năng quá tải hạ tầng, tăng chi phí bất động sản và thiếu không gian công cộng sẽ càng rõ rệt hơn. Điều này đặc biệt đáng lo ngại khi diện tích sau sáp nhập mở rộng - một nguồn lực không nhỏ để giải quyết phân bổ không gian chức năng - không được khai thác hiệu quả nếu chỉ tập trung vào một lõi.
Trước bối cảnh đó, kế hoạch điều chỉnh Quy hoạch chung TP.Hồ Chí Minh đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2060 đã đặt ra một hướng tiếp cận mang tính đa trung tâm, đa cực phát triển. Theo đề xuất này, Thành phố sẽ được tổ chức thành sáu phân vùng đô thị, mỗi vùng giữ vai trò cụ thể nhằm thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao chất lượng sống.
Cụ thể, phân vùng trung tâm vẫn giữ vai trò hạt nhân về hành chính, thương mại và dịch vụ; phân vùng phía đông tập trung phát triển các ngành công nghệ cao và kinh tế tri thức; phân vùng phía nam ứng dụng các cơ chế phát triển đô thị thông minh; phân vùng phía tây hướng tới công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ; trong khi phân vùng phía bắc và đông nam (Cần Giờ) khai thác thế mạnh nông nghiệp sinh thái và đô thị biển. Các vùng này không phát triển riêng lẻ mà được kết nối chặt chẽ bởi hệ thống giao thông công cộng, cao tốc và các hành lang hạ tầng chiến lược.
Mô hình đô thị đa cực mở ra cơ hội cho TP.Hồ Chí Minh vừa kiểm soát được mật độ phát triển ở khu trung tâm, vừa tận dụng được diện tích rộng lớn để xây dựng các cực tăng trưởng chuyên biệt, từ công nghệ đào tạo đến dịch vụ chất lượng cao và đô thị sinh thái.
Kiến trúc sư Ngô Việt Nam Sơn, chuyên gia về quy hoạch đô thị, từng nêu nhận định rằng việc hình thành các trung tâm phát triển phi tập trung là phù hợp với lịch sử mở rộng không gian của thành phố; đồng thời giúp tối ưu hóa sự phân bổ hoạt động kinh tế xã hội trên toàn bộ lãnh thổ TP.Hồ Chí Minh.
Khi đặt hai mô hình này cạnh nhau, sự khác biệt về mục tiêu phát triển rõ rệt: Đó là, đô thị nén ưu tiên tối đa hóa hiệu quả sử dụng quỹ đất và giảm sự phụ thuộc vào phương tiện cá nhân; còn đô thị đa cực đặt mục tiêu tạo ra một hệ thống các trung tâm chuyên biệt rộng khắp không gian, từng phần giảm tải cho nội đô và thúc đẩy phát triển đồng đều vùng.
Mô hình đô thị đa cực cũng là lựa chọn logic nếu nhìn vào yêu cầu liên kết vùng ngày càng chặt chẽ, đặc biệt trong bối cảnh TP.Hồ Chí Minh đóng vai trò là đầu tàu kinh tế xã hội đối với cả vùng Đông Nam Bộ và cả nước.
Mặc dù vậy, mô hình đa cực đặt ra những thách thức đáng kể về quản lý, hạ tầng và nguồn lực. Việc đầu tư lớn vào hệ thống kết nối giữa các vùng với trung tâm gồm đường sắt đô thị, vành đai giao thông, hạ tầng số… đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa quy hoạch, nguồn vốn và thực thi.
Các nút thắt này cần được tháo gỡ nhanh và hiệu quả hơn nếu TP.Hồ Chí Minh muốn hiện thực hóa mô hình đa cực hòa hợp với mô hình TOD và phát triển không gian mở rộng. Đây cũng là vấn đề mà các cơ quan quản lý và chuyên gia đều nhấn mạnh trong các hội thảo quy hoạch gần đây.
Với tham vọng trở thành một đô thị toàn cầu, chiến lược phát triển không gian của TP.Hồ Chí Minh khó có thể bó hẹp vào một mô hình đơn nhất. Thay vào đó, một cách tiếp cận tích hợp. Nghĩa là, trong đó đô thị nén là thành phần trong cấu trúc lớn hơn của đô thị đa cực, qua đó cho phép thành phố khai thác tốt nhất năng lực nội tại và tiềm năng vùng rộng lớn sau sáp nhập.
Mô hình này vừa giúp giữ vững lợi thế truyền thống ở lõi đô thị, đồng thời mở ra các cực kinh tế - dịch vụ mới, chống tình trạng quá tải cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng sống của người dân trên toàn thành phố.
Quyết định chiến lược về mô hình không gian sẽ định hình diện mạo TP.Hồ Chí Minh trong nhiều thập niên tới không chỉ là bài toán kỹ thuật về quy hoạch, mà còn là vấn đề sống còn của phát triển bền vững, cạnh tranh và hội nhập quốc tế cho siêu đô thị này.
Năm 2026, TP. Hồ Chí Minh quyết tâm đạt tăng trưởng GRDP cả năm trên 10%, phấn đấu quý III đạt từ 11,07% và quý IV đạt từ 12,3%. Đồng thời, Thành phố phấn đấu huy động trên 1,2 triệu tỷ đồng vốn đầu tư phát triển và thu ngân sách đạt mốc 1 triệu tỷ đồng…
Đà Nẵng đang chuẩn bị kế hoạch tăng cường hợp tác chiến lược với các đối tác châu Âu giai đoạn 2026-2030 tập trung vào 5 lĩnh vực chiến lược quan trọng…
Với mạng lưới 88 địa phương kết nghĩa trên thế giới sau hợp nhất, TP. Hồ Chí Minh kỳ vọng Đối thoại Hữu nghị lần thứ 3 năm 2026 sẽ trở thành không gian thúc đẩy các hợp tác, kết nối mới về đầu tư, đổi mới sáng tạo, logistics, cảng biển và phát triển bền vững...
Đề xuất di dời đoạn đường sắt Ga Hà Nội - Ngọc Hồi để phục vụ mở rộng Quốc lộ 1A đặt ra bài toán không chỉ về mặt bằng, mà còn về năng lực vận tải, khả năng kết nối và vai trò của các đầu mối trong mạng lưới đường sắt tương lai...
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8/2026 và 8 tháng năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trên nhiều lĩnh vực. Sản xuất công nghiệp bứt phá với chỉ số IIP 8 tháng tăng 11,9%, đạt mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng 96,8% và vốn thực hiện đạt 17,25 tỷ USD – cao nhất 5 năm. Tổng mức bán lẻ, dịch vụ và du lịch duy trì đà tăng khá nhờ sức mua nội địa và lượng khách quốc tế vượt 15,9 triệu lượt. Dù xuất nhập khẩu đạt mức cao nhất của 8 tháng từ trước tới nay (770,14 tỷ USD), nền kinh tế vẫn nhập siêu 20,46 tỷ USD do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu sản xuất tăng cao. Bình quân 8 tháng, CPI tăng 4,45%, lạm phát cơ bản được kiểm soát ở mức 4,24%...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, Chính phủ đã tổ chức phiên họp thường kỳ tháng 8/2026, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng đầu năm và xác định những nhiệm vụ trọng tâm cho chặng đường còn lại của năm.