Phát biểu tại Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam 2026 (lần thứ 6) - Vietnam Connect Forum 2026, do Ban chính sách, Chiến lược Trung ương chỉ đạo nội dung; Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam tổ chức chiều 13/5/2026 tại Hà Nội, ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh Tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam đã có bài tham luận sâu sắc với chủ đề “Bối cảnh toàn cầu mới và khả năng tiếp cận nguồn vốn cho nhu cầu tăng trưởng cao của Việt Nam”.
Ông Đinh Đức Quang nhận định xét trên bình diện toàn cầu, ASEAN hiện là một trong những khu vực thu hút FDI mạnh nhất thế giới, chỉ đứng sau Mỹ và châu Âu. Trong đó, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng về thu hút đầu tư trong khu vực.
“So với Indonesia, Malaysia, Thái Lan hay Philippines, Việt Nam đang sở hữu sức hút đầu tư rất ấn tượng. Nếu đặt cạnh các nền kinh tế có quy mô tương đồng như Malaysia, Thái Lan và Philippines, lượng vốn FDI vào Việt Nam đang vượt trội rõ rệt”, ông Quang nhận định.
Đề cập tới nhu cầu vốn phục vụ tăng trưởng trong 5 năm tới, ông Quang cho rằng bên cạnh các kênh truyền thống như FDI và đầu tư gián tiếp (FII), còn một kênh dẫn vốn đang vận hành tích cực nhưng thường chưa được đề cập đầy đủ đó là dòng vốn xuyên biên giới thông qua hệ thống các định chế tài chính quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam.
Hiện nay, khối ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam không chỉ thu xếp vốn vay trực tiếp cho doanh nghiệp trong nước mà còn hỗ trợ nguồn vốn quy mô lớn cho các tổ chức tín dụng nội địa. Đại diện UOB Việt Nam dẫn chứng, trong năm 2021, một nhóm ngân hàng nước ngoài, trong đó có UOB, đã thu xếp khoản vay dài hạn trị giá 1 tỷ USD cho một định chế tài chính trong nước.
“Riêng UOB, tổng hạn mức thu xếp cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận nguồn vốn quốc tế cũng như tài trợ thương mại cho các định chế tài chính trong nước đã lên tới hàng tỷ USD”, ông Quang chia sẻ.
Theo đánh giá của UOB Việt Nam, hiện Việt Nam có gần 50 định chế tài chính nước ngoài đang hoạt động, bao gồm 9 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và khoảng 40 chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Nếu tạo dựng được niềm tin và thúc đẩy sự phối hợp hiệu quả giữa các tổ chức này với thị trường trong nước, đây sẽ là một nguồn lực tài chính rất lớn cho nền kinh tế.
Đồng thời, quá trình tiếp cận thị trường vốn quốc tế đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng các tiêu chuẩn cao hơn về minh bạch tài chính, kế hoạch kinh doanh cũng như năng lực quản trị. Trong các giao dịch hợp vốn quốc tế, ngân hàng thu xếp vốn thường phải phối hợp cùng 10 - 20 tổ chức tài chính nước ngoài khác để tham gia cấp tín dụng.
Ông Quang cho biết đối với dòng vốn đầu tư gián tiếp, dư địa thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường trái phiếu Việt Nam còn rất lớn, đặc biệt là trái phiếu chính phủ.
Dẫn lại số liệu cho thấy tỷ lệ nắm giữ trái phiếu Chính phủ Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài hiện mới ở mức khoảng 1 - 2%, thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực. Tại Thái Lan, tỷ lệ này khoảng 10%, tương đương quy mô nắm giữ khoảng 20 tỷ USD. Trong khi đó, tại Malaysia và Indonesia, nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ khoảng 20 - 25% lượng trái phiếu chính phủ phát hành, tương đương khoảng 60 - 70 tỷ USD.
“Nếu có các giải pháp cụ thể để thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia sâu hơn vào thị trường trái phiếu Chính phủ, đây sẽ là một nguồn lực rất lớn cho Việt Nam”, ông Quang nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng được đánh giá là dư địa tiềm năng để kết nối doanh nghiệp trong nước với dòng vốn quốc tế. Tuy nhiên, theo đại diện ngân hàng, điều mà nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhất hiện nay là hệ thống hạ tầng đánh giá rủi ro tín dụng, cơ chế định giá và đường cong lãi suất chuẩn trên thị trường.
Đây được xem là cơ sở quan trọng giúp các nhà đầu tư xây dựng mô hình đánh giá rủi ro, định giá tài sản và tạo dựng niềm tin khi tham gia thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam.
Kỳ vọng trong thời gian tới, các cơ quan quản lý như Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước sẽ phối hợp cùng các thành viên thị trường để hoàn thiện hạ tầng định giá, xây dựng đường cong lãi suất chuẩn cho cả thị trường tiền tệ ngắn hạn và thị trường vốn dài hạn.
Chia sẻ thêm về hoạt động của UOB tại Việt Nam, đại diện ngân hàng cho biết UOB hiện diện tại Việt Nam suốt 33 năm qua và liên tục tăng vốn kể từ khi được Ngân hàng Nhà nước cấp phép thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài vào năm 2017.
Hiện, vốn điều lệ của UOB Việt Nam đã đạt khoảng 10.000 tỷ đồng, thuộc nhóm ngân hàng nước ngoài có quy mô vốn lớn nhất tại thị trường Việt Nam. Sau khi nhận chuyển giao mảng ngân hàng bán lẻ của Citibank Việt Nam năm 2023, UOB tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh tại Việt Nam trên nhiều phân khúc khách hàng.
Đồng thời, ngân hàng này cũng đã công bố kế hoạch đầu tư xây dựng tòa nhà văn phòng tại khu vực trung tâm tài chính quốc tế ở TP. Hồ Chí Minh.
“Với vai trò là một doanh nghiệp FDI hoạt động trong lĩnh vực tài chính tại Việt Nam, chúng tôi cam kết đồng hành dài hạn cùng các doanh nghiệp FDI cũng như kết nối doanh nghiệp trong nước với nguồn vốn quốc tế, qua đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển thực chất và bền vững hơn trong thời gian tới”, ông Đinh Đức Quang nhấn mạnh.




Diễn biến kinh tế vĩ mô trong tháng 7/2026 và nửa đầu tháng 8/2026 cho thấy dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam của hàng loạt tổ chức tài chính trong nước và quốc tế đã có sự “đảo chiều” đáng chú ý. Không chỉ các dự báo được điều chỉnh tăng, mà đáng lưu ý hơn là biên độ và tốc độ điều chỉnh. Diễn biến này cho thấy nền kinh tế đang đứng trước những cơ hội mới, song đồng thời vẫn phải đối mặt với không ít thách thức đan xen...
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.
Bộ Xây dựng đánh giá công tác giải ngân tại dự án cao tốc Cần Thơ - Cà Mau đang rất chậm, yêu cầu chủ đầu tư nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ nội nghiệp, điều chuyển khối lượng đối với nhà thầu chậm trễ, không có khả năng khắc phục...
Trong giai đoạn 2026 - 2030, nền kinh tế cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng 10%/năm. Tuy nhiên, ngân sách nhà nước và đầu tư công chỉ có thể gánh vác khoảng 21% số vốn khổng lồ này, phần còn lại phải huy động từ khối tư nhân và khối FDI. Thực trạng này đang đặt ra áp lực chưa từng có lên thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp…
TP. Hồ Chí Minh đang mở rộng không gian hội nhập ASEAN, hướng tới tăng cường thương mại, đầu tư và tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực...
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.