
Tại dự thảo Nghị định điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng, ngoài việc thực hiện điều chỉnh theo tỷ lệ chung đối với tất cả đối tượng đang hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội còn đề xuất điều chỉnh thêm đối với những người hưởng lương hưu, trợ cấp từ trước ngày 1/1/1995 mà có mức hưởng dưới 3.000.000 đồng/tháng.
Đây là chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với những người đã có thời gian làm việc, cống hiến trong khu vực Nhà nước giai đoạn trước năm 1995 có mức hưởng thấp hơn so với mặt bằng chung.
Lần gần nhất Chính phủ thực hiện điều chỉnh chính sách này là từ ngày 1/1/2022 theo quy định tại Nghị định số 108/2021/NĐ-CP điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng. Cụ thể, điều chỉnh tăng thêm đối với người nghỉ hưu trước ngày 1/1/1995 sau khi đã thực hiện điều chỉnh tăng thêm 7,4% mà có mức hưởng dưới 2,3 triệu đồng/tháng thì được tăng thêm 200.000 đồng/người/tháng. Theo đó, mức hưởng trên 2,3 triệu đồng/người/tháng và dưới 2,5 triệu đồng/người/tháng thì được tăng lên bằng 2,5 triệu đồng.
Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, từ thực tiễn thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng từ trước ngày 1/1/1995 cho thấy, mức lương hưu, trợ cấp hằng tháng đã được xác định dựa trên thời gian công tác thực tế và mức tiền lương tháng trước khi nghỉ việc của người lao động.
Tuy nhiên, với đặc thù của chính sách tiền lương giai đoạn trước năm 1995, cùng với các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội tại thời điểm đó, nên phần lớn người lao động nghỉ hưu, nghỉ việc theo chế độ mất sức lao động với thời gian làm việc ngắn và mức tiền lương trước khi nghỉ việc thấp. Từ đó ảnh hưởng đến mặt bằng chung về mức hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng của nhóm đối tượng này.
Bên cạnh đó, một số nhóm đối tượng đã dừng hưởng theo quy định, sau đó được nhà nước ban hành chính sách cho tiếp tục hưởng trợ cấp hằng tháng từ nguồn ngân sách nhà nước, nên mức hưởng khá thấp so với mặt bằng chung (mức trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng của người đang hưởng trợ cấp theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg và Quyết định số 613/QĐ-TTg là khoảng 1.443.633 đồng/người/tháng).
Thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội “quan tâm điều chỉnh thỏa đáng đối với nhóm đối tượng có mức lương hưu thấp và nghỉ hưu trước năm 1995 nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch lương hưu giữa người nghỉ hưu ở các thời kỳ và Nghị quyết số 69/2022/QH15 của Quốc hội “hỗ trợ thêm đối với người nghỉ hưu trước năm 1995 có mức hưởng thấp”, Bộ Lao động — Thương bình và Xã hội đề xuất điều chỉnh đối tượng điều chỉnh đối với người nghỉ hưu từ trước ngày 1/1/1995 sau khi thực hiện điều chỉnh theo quy định chung mà có mức hưởng dưới 3 triệu đồng/người/tháng.
Theo Bộ này, việc xác định mốc 3 triệu đồng/người/tháng đề làm căn cứ điều chỉnh được tính toán dựa trên mức 2,5 triệu đồng/người/tháng quy định tại Nghị định số 108/2021/NĐ-CP, và thực hiện việc điều chỉnh tăng 20,8% theo mức tăng của mức lương cơ sở và các chính sách an sinh xã hội đang gắn với lương cơ sở theo Nghị quyết số 69/2022/QH15.
Do đó, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đề xuất điều chỉnh theo số tiền tuyệt đối. Cụ thể, những người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp hằng tháng từ trước ngày 1/1/1995 sau khi điều chỉnh tăng thêm 12,5% theo mức điều chỉnh chung, mà có mức hưởng thấp hơn 3 triệu đồng/tháng thì mức hưởng được điều chỉnh tăng thêm 300.000 đồng/người/tháng đối với những người có mức hưởng từ 2,7 triệu đồng trở xuống. Tăng lên bằng 3 triệu đồng đối với những người có mức hưởng từ 2,7 triệu đồng đến dưới 3 triệu đồng.
Đánh giá tác động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho rằng thực hiện giải pháp nêu trên thì bên cạnh chi ngân sách nhà nước để thực hiện điều chỉnh lương hưu chung cho các nhóm đối tượng, thì nguồn ngân sách nhà nước sẽ phải cân đối thêm nguồn kinh phí để thực hiện điều chỉnh đối với nhóm có mức lương hưu thấp dưới 3 triệu đồng/tháng.
Dự kiến, có khoảng 230.000 người hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng từ trước ngày 1/1/1995 thuộc đối tượng điều chỉnh do ngân sách nhà nước chỉ trả với kinh phí khoảng 330 tỷ đồng.
Tuy nhiên, với việc điều chỉnh theo giải pháp trên thì những người hưởng lương hưu, trợ cấp trước ngày 1/1/1995 sau khi điều chỉnh một mức điều chỉnh theo tỷ lệ % chung mà có mức hưởng dưới 3 triệu đồng/tháng thì còn được điều chỉnh theo số tiền tuyệt đối. Do vậy, nhìn chung sẽ làm tăng thêm mức hưởng của những người có mức hưởng thấp.
Bên cạnh đó, việc này cũng tác động đến tâm lý của những người nghỉ hưu, trợ cấp trước năm 1995, đây là những người có quá trình công tác, cống hiến cho các cơ quan, đơn vị của Nhà nước trước đây; thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với họ, tạo sự tin tướng vào chế độ đãi ngộ của Nhà nước đối với quá trình công tác, công hiến trước đây của người lao động.
Thực hiện giải pháp này cũng góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch lương hưu giữa người có mức lương hưu thấp và lương hưu cao. Tuy nhiên, sẽ dẫn đến sự so sánh giữa những người có cùng mức lương hưu nghỉ trước và sau thời điểm ngày 1/1/1995.




Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, nhằm thống nhất trong quá trình thực hiện...
Khi tuyển dụng người lao động Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không chỉ phải thông báo nhu cầu tuyển dụng đến cơ quan, tổ chức quản lý có thẩm quyền, mà còn phải công khai thông tin tuyển dụng trên Sàn giao dịch việc làm Quốc gia, hoặc một trong các kênh thông tin hợp pháp được cho phép…
Định hướng chung là việc thực hiện chính sách cần được tính toán kỹ lưỡng, tránh để những cán bộ, giáo viên có năng lực, kinh nghiệm nghỉ việc, trong khi địa phương vẫn còn nhu cầu sử dụng...
Việc xây dựng một hệ thống dữ liệu thị trường lao động đồng bộ và chính xác không chỉ là nhiệm vụ của các trung tâm dịch vụ việc làm, mà còn cần sự tham gia tích cực từ phía doanh nghiệp và người lao động…
Danh mục ngành, nghề đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp mới có sự xuất hiện của nhiều lĩnh vực đang có nhu cầu nhân lực trong quá trình chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, năng lượng và công nghiệp hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Robot và trí tuệ nhân tạo...
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Việt Nam hiện đã hoàn tất kết nối thanh toán QR xuyên biên giới với 6 quốc gia trong khu vực và châu Á, đang triển khai kết nối với Đài Loan (Trung Quốc), Ấn Độ và tiếp tục triển khai mở rộng dịch vụ với các quốc gia khác trong thời gian tới.