
Báo cáo mới nhất về tình hình đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài mới nhất cho thấy vốn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam hiện nay chủ yếu trong lĩnh vực dầu khí.
Trong quý 1/2013, tính chung cả vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm, các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 2,65 tỷ USD.
Cụ thể, đã có 22 dự án đầu tư ra nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đầu tư là 720,7 triệu USD, qua đó quy mô vốn đầu tư đăng ký trung bình cho một dự án đạt trên 32,7 triệu USD.
Đồng thời, có 5 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt 1,9 tỷ USD, trong đó dự án công ty liên doanh Rusvietpetro của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) tại Nga tăng vốn đầu tư lên tới 1,4 tỷ USD và dự án thăm dò muối mỏ tại Lào của Tổng công ty Hóa chất Việt Nam tăng vốn 518,9 triệu USD.
Ngoài hai dự án quan trọng trên, trong quý 1/2013, các doanh nghiệp Việt Nam còn đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ lưu trú, ăn uống với 3 dự án, tổng vốn đầu tư 335 triệu USD, chiếm 12,6% tổng vốn đầu tư. Lĩnh vực thông tin và truyền thông đứng thứ ba với 237,7 triệu USD, chiếm 8,9% tổng vốn đầu tư.
Tính đến 20/3/2013, đã có 742 dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam với tổng vốn đăng ký 15,5 tỷ USD.
Các dự án tập trung phần lớn trong lĩnh vực khai khoáng với 99 dự án, tổng vốn đầu tư 4,6 tỷ USD, (chiếm 13,3% về số dự án và 46% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản với 80 dự án, tổng vốn đầu tư 1,9 tỷ USD (chiếm 10,8% số dự án và 12,6% tổng vốn đầu tư); lĩnh vực sản xuất điện đứng thứ ba với 1,8 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 12,1%.
Về giải ngân, lũy kế đến ngày 20/3/2013 đã đạt khoảng 3,8 tỷ USD; trong đó khoảng 2,9 tỷ USD trong lĩnh vực dầu khí; gần 500 triệu USD trong lĩnh vực trồng cây cao su khoảng; 400 triệu USD trong lĩnh vực thủy điện; viễn thông 249 triệu USD… Vốn đầu tư thực hiện tại Lào đạt khoảng 691 triệu USD, Campuchia đạt khoảng trên 621 triệu USD...
Đáng chú ý, trong tổng vốn đầu tư thực hiện của các dự án đầu tư ra nước ngoài, có một phần đáng kể vốn được thực hiện thông qua việc mua sắm, sử dụng hàng hóa, máy móc, thiết bị, dịch vụ từ trong nước.
Điều này góp phần làm tăng giá trị xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam ra nước ngoài.
Theo báo cáo của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Sông Đà, Tập đoàn Cao su Việt Nam, Tập đoàn Than - Khoáng sản, Viettel, Hoàng Anh - Gia Lai…, một phần vốn đầu tư ra nước ngoài đã được dùng để trả cho các nhà thầu của Việt Nam hoặc mua hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam để chuyển ra nước ngoài thực hiện dự án.
Ngày 7/10, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiếp tục ngày làm việc thứ ba, thảo luận về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện ngân sách nhà nước năm 2026 và dự kiến kế hoạch năm 2027; cùng nhiều nội dung quan trọng về thu hút nhân tài, hoạt động đầu tư, kinh doanh của đảng viên và công tác xây dựng Đảng.
Sau hơn một năm cả nước vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền theo Nghị quyết 28-NQ/TW trở nên cấp thiết. Điều này nhằm bảo đảm hệ thống chính trị tinh gọn thực sự đi đôi với hiệu lực và hiệu quả.
Hai bên nhất trí khai thác lợi thế địa kinh tế của Việt Nam và Panama, tăng cường kết nối vận tải, logistics, dòng tài chính và chuỗi cung ứng giữa Đông Á với Mỹ Latinh; đồng thời ký kết, trao 9 văn kiện hợp tác trong các lĩnh vực vận tải biển, an ninh, nông nghiệp, du lịch, hải quan, hàng không và đào tạo.
Chiều 6/10, tại Nhà Quốc hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân chủ trì Lễ đón trọng thể Tổng thống Cộng hòa Panama José Raúl Mulino và Phu nhân, đang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 5 đến 8/10/2026.
Trong ngày làm việc thứ hai Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Trung ương tập trung thảo luận nhiều nội dung quan trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; công tác cán bộ; thu hút, trọng dụng nhân tài; hoạt động đầu tư, kinh doanh của đảng viên và công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng nhanh sẽ kéo theo những thay đổi lớn. Nếu người dân không được lắng nghe, doanh nghiệp thiếu niềm tin và các nhóm chịu tác động không được hỗ trợ thích đáng, chi phí xã hội của quá trình cải cách sẽ tăng lên.