Chiều ngày 6/5, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng chủ trì cuộc họp về xây dựng dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), với yêu cầu đẩy nhanh tiến độ nhưng phải bảo đảm chất lượng.
Về tiến độ thực hiện dự án, đơn vị soạn thảo cho biết đến nay, nhiều nhóm nội dung đã hoàn thành theo kế hoạch. Dự án luật đã được đưa vào Chương trình lập pháp của Quốc hội năm 2026, dự kiến trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp tháng 8/2026 và trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2026).
Từ nay đến thời điểm trình Quốc hội, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục hoàn thiện hồ sơ dự án luật, trong đó đưa ra bốn nhóm chính sách lớn; lấy ý kiến các đoàn đại biểu Quốc hội, các bộ, ngành và các đối tượng chịu tác động trực tiếp. Đồng thời, hồ sơ dự án luật sẽ được trình Chính phủ xem xét, gửi thẩm tra đến các ủy ban của Quốc hội, đăng tải trên Cổng Pháp luật quốc gia và tiếp tục được chỉnh lý trên cơ sở ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Ghi nhận nỗ lực của cơ quan soạn thảo, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng đánh giá tiến độ cơ bản được bảo đảm, song nhấn mạnh yêu cầu phải hoàn thành sớm nhất có thể. Trong đó, các đơn vị cần tập trung cao độ để hoàn thiện dự thảo, kịp thời xin ý kiến theo đúng quy trình.
Một yêu cầu quan trọng được Bộ trưởng đặt ra là tăng cường phối hợp với các bộ, ngành và lĩnh vực liên quan trực tiếp đến khai thác tài nguyên biển như công thương, dầu khí, điện lực, logistics, hàng hải…; đồng thời tham khảo ý kiến của VCCI, các tổ chức đại diện doanh nghiệp và các nhà đầu tư liên quan đến biển, hải đảo để dự án Luật có tính đồng bộ, thống nhất cao với các pháp luật chuyên ngành khác.
Đối với chính sách, Bộ trưởng thống nhất việc hoàn thiện bốn nhóm chính sách lớn nhằm tháo gỡ vướng mắc thực tiễn. Đặc biệt, Bộ trưởng nhấn mạnh quyền tiếp cận biển của người dân phải được quy định rõ ràng trong luật. Theo ông, đây là nội dung có ý nghĩa thiết thực, cần được thể chế hóa đầy đủ, bảo đảm người dân và các tổ chức, cá nhân có thể tiếp cận biển thuận lợi.
Bộ trưởng cũng đề nghị cách xác định đối tượng thụ hưởng quyền tiếp cận biển theo hướng khái quát, bao trùm, tương tự cách tiếp cận của Luật Đất đai, nhằm bảo đảm dễ hiểu, dễ áp dụng.
Một yêu cầu xuyên suốt được Bộ trưởng nhấn mạnh là phải chuẩn bị đồng bộ từ luật đến các văn bản hướng dẫn thi hành. Khi luật ban hành, nghị định và thông tư phải sẵn sàng để triển khai ngay, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Theo Tờ trình, việc xây dựng chính sách của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) nhằm hoàn thiện các chính sách, pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường, quản lý, sử dụng không gian biển, nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên biển; thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế biển theo hướng hiện đại, thống nhất, đồng bộ và khả thi.
Điều này cũng nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước và nội luật hóa các cam kết quốc tế về biển và đại dương; góp phần thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.
Thông qua đó, xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ, đồng bộ với hệ thống pháp luật có liên quan, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp, loại bỏ rào cản thể chế, bổ sung các khoảng trống pháp luật; bảo đảm quản lý hiệu quả, khai thác, sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên, không gian biển; nâng cao năng lực quản trị đại dương, năng lực phòng ngừa, kiểm soát rủi ro môi trường biển trong dài hạn; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng;
Việc xây dựng luật cũng tạo môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và các chủ thể tham gia khai thác, sử dụng, quản lý không gian biển, phát triển kinh tế biển và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; đáp ứng yêu cầu thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững kinh tế biển, nâng cao chất lượng sống của cộng đồng người dân ven biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia.
Trước đó, ngày 5/5/2026, tại cuộc họp Hội đồng thẩm định hồ sơ chính sách của dự án luật này do Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì, các đại biểu đã tập trung góp ý, hoàn thiện 4 chính sách cơ quan soạn thảo đề xuất.
Thứ nhất, hoàn thiện quy định về quản lý, sử dụng không gian biển, bảo đảm phân định rõ trách nhiệm trong quản lý, thực thi, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển.
Thứ hai, hoàn thiện quy định về các quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển.
Thứ ba, hoàn thiện quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo.
Thứ tư, xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội để thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các hoạt động kinh tế trên biển.
Theo Bộ Tư pháp, về sự phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, dự thảo cần tiếp tục được rà soát để bảo đảm bám sát các nghị quyết, kết luận của Trung ương, đặc biệt là Kết luận số 18. Trong đó, cần làm rõ các nội dung về phân quyền giữa Trung ương và địa phương (nhất là trong chính sách 1 và 3), cũng như yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú đánh giá đây là nội dung có tính đột phá trong thúc đẩy phát triển kinh tế biển và hải đảo. Tuy nhiên, việc thiết kế chính sách ưu đãi, đặc biệt về thuế và ngân sách, phải bảo đảm không vượt khung pháp luật hiện hành. Trường hợp đề xuất cơ chế đặc thù vượt thẩm quyền, cần báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét theo đúng tinh thần của Kết luận số 18.
Về quốc phòng, an ninh, nguồn lực và thủ tục hành chính, Bộ Tư pháp cần làm rõ hơn các quy định trong nhóm chính sách thứ hai liên quan đến quyền, nghĩa vụ, bảo đảm không ảnh hưởng đến chủ quyền, an ninh quốc gia. Đồng thời, phải đánh giá đầy đủ tác động về nguồn nhân lực, tài chính, nhất là trong bối cảnh phát triển các hoạt động kinh tế mới trên biển và hải đảo. Các thủ tục hành chính liên quan đến bốn chính sách cũng cần được rà soát, đánh giá cụ thể, bảo đảm minh bạch, khả thi.




Khoảng 750.000 người dân tại Quảng Trị được kỳ vọng sẽ hưởng lợi trực tiếp và gián tiếp từ Dự án Phát triển hạ tầng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu có tổng vốn đầu tư hơn 2.900 tỷ đồng, dự kiến triển khai trong giai đoạn 2027 - 2030.
Một nghiên cứu mới của Đài quan sát Nam Âu (ESO) cảnh báo kế hoạch phóng khoảng 1,7 triệu vệ tinh trong những năm tới có thể gây ra tác động chưa từng có đối với hoạt động quan sát thiên văn. Nếu không có giới hạn phù hợp, bầu trời đêm - "phòng thí nghiệm tự nhiên" của ngành thiên văn học - có nguy cơ bị che phủ bởi các vệt sáng nhân tạo…
HĐND TP.Hồ Chí Minh vừa ban hành Nghị quyết quy định mức thu phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác 18 loại khoáng sản trên địa bàn, trong đó loại khoáng sản mức thu cao nhất là 90.000 đồng/m3...
Việt Nam đang đẩy mạnh hoàn thiện chính sách và khung kỹ thuật nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh trong lĩnh vực giao thông vận tải, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Với sự hỗ trợ của Chính phủ Đức, dự án NDC-TIA II sẽ góp phần hoàn thiện thể chế, thúc đẩy điện khí hóa phương tiện và phát triển hệ sinh thái giao thông phát thải thấp...
Diễn đàn Phát triển Khu Công nghiệp Việt Nam được tổ chức trong bối cảnh việc định hướng phát triển các khu công nghiệp có ý nghĩa quan trọng thu hút đầu tư, góp phần định hình mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và vị thế của Việt Nam trong các chuỗi giá trị toàn cầu.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Diễn đàn Phát triển Khu Công nghiệp Việt Nam được tổ chức trong bối cảnh việc định hướng phát triển các khu công nghiệp có ý nghĩa quan trọng thu hút đầu tư, góp phần định hình mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và vị thế của Việt Nam trong các chuỗi giá trị toàn cầu.