Tại Diễn đàn “Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh” mới đây, ông Trần Lê Hồng, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), cho biết năm 2024, thương hiệu quốc gia Việt Nam được định giá 507 tỷ USD, xếp thứ 32 trong số 193 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tính tới cuối năm 2025, giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam đạt gần 520 tỷ USD. Con số này tăng khoảng 63% tính trong cả giai đoạn 5 năm (2020-2025).
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của thương hiệu quốc gia chưa phản ánh đầy đủ sức mạnh của cộng đồng doanh nghiệp. Năm 2025, tổng giá trị của Top 100 thương hiệu doanh nghiệp Việt Nam đạt khoảng 38,4 tỷ USD và tăng lên 43 tỷ USD năm 2026, nhưng vẫn chưa bằng một nửa giá trị thương hiệu của Samsung. Khoảng cách này cho thấy yêu cầu phát triển thêm nhiều doanh nghiệp có năng lực công nghệ, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh, qua đó hình thành những thương hiệu Việt đủ sức vươn ra thị trường quốc tế.
Nhiều năm qua, Việt Nam được biết đến như một công xưởng sản xuất, gia công quy mô lớn của thế giới trong nhiều ngành hàng chủ lực như dệt may, da giày, nông sản và linh kiện điện tử. Tuy nhiên, thực tế thương mại quốc tế cũng cho thấy một điểm hạn chế kéo dài: không ít doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu đảm nhận các khâu sản xuất, gia công, trong khi phần giá trị gia tăng giữ lại trong chuỗi giá trị toàn cầu còn khiêm tốn.
Đại sứ Vũ Quang Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, cho rằng xét ở góc độ xây dựng hình ảnh quốc gia thông qua tên tuổi và sự hiện diện của các doanh nghiệp Việt Nam, mức độ nhận diện trên thị trường quốc tế vẫn còn hạn chế.
Thực tế công tác tại các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài cho thấy bên cạnh một số thị trường lân cận như Campuchia, nơi có sự hiện diện tương đối rõ nét của các thương hiệu như Viettel, Vietnam Airlines, Vietjet hay Trung Nguyên, tại nhiều khu vực khác, việc tìm kiếm doanh nghiệp Việt Nam đồng hành trong các hoạt động đối ngoại và quảng bá vẫn không dễ dàng.
Việt Nam đã có nhiều doanh nghiệp tạo được dấu ấn nhất định như FPT, VinFast, Vinamilk, Masan, Biti’s, Minh Long, Hòa Phát, Hoa Sen,… tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp xây dựng được thương hiệu và duy trì sự hiện diện trực tiếp, thường xuyên tại các thị trường quốc tế vẫn còn hạn chế.
Một ví dụ điển hình là ngành sản xuất, gia công giày dép và dệt may. Việt Nam nằm trong nhóm những quốc gia xuất khẩu lớn trên thế giới, nhưng phần lớn sản phẩm vẫn được sản xuất theo đơn hàng cho các thương hiệu nước ngoài. Trong khi đó, nhiều khâu có giá trị gia tăng cao như nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế, tiếp thị, phân phối và hoạch định chiến lược thị trường chủ yếu do các tập đoàn quốc tế hoặc doanh nghiệp FDI đảm nhiệm.
Điều này khiến doanh nghiệp Việt dù có năng lực sản xuất và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu nhưng lại khó tạo dựng nhận diện thương hiệu tương xứng với quy mô xuất khẩu. Nếu không chuyển dịch từ tư duy sản xuất, gia công sang làm chủ nhiều hơn các khâu có giá trị gia tăng cao, doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó thoát khỏi vòng luẩn quẩn của gia công, với biên lợi nhuận hạn chế và khả năng chủ động trên thị trường quốc tế chưa cao.
Để giải bài toán vươn ra thế giới trong bối cảnh lợi thế về chi phí nhân công rẻ không còn như trước, thậm chí đang suy giảm nhanh chóng, doanh nghiệp Việt Nam buộc phải tạo dựng những lợi thế cạnh tranh mới dựa trên năng lực cốt lõi và khả năng làm chủ các khâu có giá trị gia tăng cao hơn.
Ông Lê Tùng, Giám đốc Chiến lược Tập đoàn Sunhouse, cho rằng doanh nghiệp cần từng bước xây dựng chuỗi giá trị có tính cạnh tranh, từ nghiên cứu và phát triển (R&D), tối ưu hóa chuỗi cung ứng, xây dựng và làm chủ thương hiệu đến phát triển hệ thống phân phối. Nếu chỉ dừng lại ở khâu sản xuất, gia công đơn thuần, doanh nghiệp sẽ khó có thể giữ lại phần giá trị đáng kể trong toàn bộ chuỗi.
Từ kinh nghiệm thực tế của Sunhouse trong quá trình mở rộng ra thị trường quốc tế, ông Lê Tùng cho rằng khi nguồn lực còn hạn chế, doanh nghiệp cần lựa chọn và tập trung vào những mắt xích có khả năng tạo ra giá trị và tích lũy năng lực lâu dài.
Thứ nhất, tận dụng thương hiệu để mở rộng thị trường. Doanh nghiệp có thể khai thác nền tảng thương hiệu hiện có để tiếp cận các thị trường khu vực như Đông Nam Á hoặc từng bước thâm nhập thị trường Mỹ thông qua những hệ thống phân phối sẵn có. Cách tiếp cận này giúp doanh nghiệp giữ lại nhiều hơn giá trị thương mại của sản phẩm, đồng thời tiếp tục tích lũy độ nhận diện và sức mạnh thương hiệu trên thị trường quốc tế.
Thứ hai, duy trì và nâng cao năng lực R&D. Một hướng đi là chủ động cung cấp năng lực nghiên cứu và phát triển cho các đối tác quốc tế lớn. Ngay cả khi một số kết quả nghiên cứu chưa thể ứng dụng ngay vào thị trường trong nước, quá trình này vẫn giúp doanh nghiệp tích lũy tri thức, công nghệ và kinh nghiệm, tạo nền tảng cho năng lực phát triển sản phẩm trong dài hạn.
Thứ ba, kết hợp sản xuất OEM với phát triển năng lực nội tại. Việc tham gia sản xuất cho các tập đoàn toàn cầu đặt doanh nghiệp trước yêu cầu về quy mô, chất lượng và tiêu chuẩn rất cao.
Khi được kết hợp đồng bộ, từ thương hiệu, R&D, sản xuất đến phân phối, các mắt xích trong chuỗi giá trị không chỉ tạo thêm dư địa gia tăng giá trị mà còn giúp doanh nghiệp tích lũy năng lực để từng bước chuyển từ vị trí gia công sang chủ động hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây cũng là nền tảng để thương hiệu Việt mở rộng hiện diện trên thị trường quốc tế theo hướng bền vững hơn.
Một thương hiệu quốc gia mạnh không thể được tạo dựng chỉ bằng những chiến dịch truyền thông ngắn hạn, mà phải được hình thành từ chính năng lực thực chất của cộng đồng doanh nghiệp. Khi năng lực sản xuất, công nghệ, quản trị và chất lượng được nâng lên, thương hiệu mới có nền tảng để tạo dựng niềm tin và duy trì giá trị trên thị trường quốc tế.
Bà Hà Kiều Oanh, Phó Trưởng phòng Phát triển năng lực Xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), nhấn mạnh năng lực thực chất của doanh nghiệp cần được thể hiện trên bốn trụ cột gồm năng lực quản trị, trình độ công nghệ, chất lượng sản phẩm và khả năng tổ chức thị trường.
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, các đối tác quốc tế không chỉ quan tâm đến hình ảnh hay mẫu mã sản phẩm, mà còn đánh giá cả hệ thống quản trị, khả năng duy trì chất lượng ổn định và độ tin cậy của chuỗi cung ứng. Vì vậy, đổi mới sáng tạo cần được tích hợp vào từng công đoạn sản xuất và kinh doanh; chuyển đổi số phải trở thành công cụ hỗ trợ quản trị, mở rộng khả năng tiếp cận khách hàng và cung cấp dữ liệu phục vụ quá trình ra quyết định.
Đặc biệt, chất lượng sản phẩm không thể chỉ dựa vào khâu kiểm tra cuối cùng mà cần được bảo đảm bởi một hệ thống quản trị có tính kỷ luật, từ tiêu chuẩn nguyên liệu, quy trình sản xuất đến kiểm soát chất lượng và dịch vụ sau bán hàng.
“Câu hỏi cốt lõi của thương hiệu không chỉ dừng lại ở việc doanh nghiệp được nhận biết ra sao, mà quan trọng hơn là doanh nghiệp có năng lực gì để liên tục tạo ra giá trị mới và giữ vững niềm tin của thị trường”, bà Oanh nhấn mạnh.
Theo bà Oanh, trong mối quan hệ này, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua việc tổ chức các chương trình nâng cao năng lực, kết nối nguồn lực và hỗ trợ quảng bá; trong khi doanh nghiệp phải là chủ thể trực tiếp đầu tư bài bản cho công nghệ, chất lượng và quản trị.
Theo TS. Chử Đức Hoàng, Chánh Văn phòng Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ), tốc độ phát triển nhanh của công nghệ đang đặt doanh nghiệp trước yêu cầu phải chủ động hơn trong việc tạo dựng năng lực công nghệ. Nếu chỉ dựa vào việc vay mượn hoặc sao chép công nghệ của doanh nghiệp khác, doanh nghiệp có thể đối mặt với những rủi ro liên quan đến sở hữu trí tuệ cũng như nguy cơ mất lợi thế khi công nghệ nhanh chóng trở nên lạc hậu.
Vì vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh trong dài hạn, doanh nghiệp Việt Nam cần từng bước làm chủ công nghệ, phát triển các năng lực công nghệ cốt lõi phù hợp với lĩnh vực hoạt động và xây dựng nguồn dữ liệu phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Đồng hành cùng doanh nghiệp, Bộ Khoa học và Công nghệ đang triển khai những thay đổi về hành lang pháp lý và phương thức hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Tư duy quản lý được định hướng chuyển từ cách tiếp cận “khoa học, công nghệ đẩy” sang “thị trường kéo”, lấy nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và thị trường làm một trong những cơ sở quan trọng để tổ chức các hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ.
Đáng chú ý, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia được định hướng trở thành một kênh hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ, với nhiều nhóm hoạt động nhằm chia sẻ rủi ro và thúc đẩy quá trình nghiên cứu, ứng dụng. Các công cụ hỗ trợ được đề cập gồm hỗ trợ lãi suất vay vốn cho hoạt động đổi mới công nghệ, tài trợ trực tiếp cho các dự án nghiên cứu, Nhà nước đặt hàng các bài toán công nghệ và triển khai phiếu hỗ trợ tài chính (voucher), qua đó giúp doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp, có thêm nguồn lực để hoàn thiện sản phẩm và nâng cao khả năng cạnh tranh khi đưa sản phẩm ra thị trường.
Như vậy, xây dựng thương hiệu không thể tách rời quá trình xây dựng năng lực doanh nghiệp. Truyền thông có thể giúp một sản phẩm được biết đến, nhưng chất lượng, công nghệ, quản trị và khả năng đáp ứng thị trường mới là những yếu tố quyết định khả năng duy trì niềm tin và giá trị của thương hiệu trong dài hạn.
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 39-2026 phát hành ngày 28/09/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-39-2026.html
TP. Hồ Chí Minh mục tiêu thành lập 300 hợp tác xã mới vào năm 2030, trở thành một phần trong kế hoạch tổng thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế tập thể, đồng thời thúc đẩy liên kết sản xuất và ứng dụng công nghệ hiện đại…
Tiếp tục khẳng định vị thế tại kỳ xét chọn Thương hiệu Quốc gia Việt Nam năm 2026, Công ty Cổ phần Mỹ phẩm Sài Gòn (SCC) ghi dấu ấn với hai thương hiệu nước hoa Miss Saigon và Miss Vietnam. Trong đó, Miss Saigon tiếp tục được công nhận sau thành công năm 2024, còn Miss Vietnam lần đầu góp mặt trong danh sách sản phẩm đạt danh hiệu này.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới các mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, vai trò của các doanh nghiệp quy mô lớn ngày càng được nhìn nhận không chỉ qua kết quả kinh doanh hay số thuế nộp ngân sách, mà còn ở khả năng tạo việc làm, thúc đẩy chuỗi cung ứng nội địa và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Với nền tảng kinh doanh vững vàng cùng mạng lưới hoạt động rộng khắp, SABECO là một trong những ví dụ tiêu biểu cho cách doanh nghiệp tạo ra giá trị kinh tế trên nhiều phương diện.
Hàng thập kỷ hành động chưa đủ mạnh để cắt giảm khí thải đang đẩy thế giới đến nguy cơ vượt ngưỡng nóng lên toàn cầu 1,5 độ C. Triển vọng khí hậu càng trở nên đáng lo ngại khi Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump rút khỏi Thỏa thuận Khí hậu Paris, nới lỏng các quy định môi trường và mở rộng sản xuất dầu khí…
Bốn sản phẩm được công nhận đạt Thương hiệu Quốc gia Việt Nam năm 2026 tiếp tục ghi nhận hành trình phát triển của Dược Nam Hà.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Ở giữa đảo ngọc Phú Quốc, có một mô hình trống nấm Linh Chi đỏ từ nhiều năm nay, tạo thêm một phần việc làm cho người dân địa phương. Nấm ở đây được nuôi trồng theo kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao, nguyên liệu được hấp thanh trùng, tiệt trùng trước khi cấy phôi giống.