Theo thống kê của Bộ Công Thương, xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác tiếp tục là một trong những điểm sáng của hoạt động thương mại năm 2025.
Việc tận dụng hiệu quả các loại C/O ưu đãi đã giúp máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng Việt Nam mở rộng thị trường, giảm chi phí thuế quan và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Cụ thể, trong cơ cấu C/O được cấp, C/O form B – loại chứng từ không ưu đãi, chủ yếu dùng để xác nhận xuất xứ Việt Nam đạt kim ngạch 1,5 triệu USD. Dù giá trị không lớn, nhưng đây vẫn là công cụ cần thiết để đáp ứng yêu cầu xuất xứ tại các thị trường không áp dụng ưu đãi thuế quan theo FTA.
Ở nhóm C/O ưu đãi, nổi bật là C/O form D theo Hiệp định ATIGA (Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN) với kim ngạch 368,3 triệu USD. Việc thuế nhập khẩu nội khối ASEAN giảm về 0% đã tạo điều kiện thuận lợi để máy móc, thiết bị của Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào các thị trường lân cận, phục vụ nhu cầu sản xuất và đầu tư hạ tầng ngày càng tăng trong khu vực.
C/O theo các FTA thế hệ mới tiếp tục đóng vai trò quan trọng. Kim ngạch xuất khẩu sử dụng C/O form CPTPP (Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) đạt 150,4 triệu USD, cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước thích ứng với các quy tắc xuất xứ chặt chẽ để khai thác hiệu quả các thị trường như Canada, Australia, Nhật Bản hay Mexico.
Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu máy móc, thiết bị sử dụng C/O form EUR.1 theo Hiệp định EVFTA (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU) đạt 1,06 tỷ USD. Đây là minh chứng cho khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và xuất xứ ngày càng cao của hàng công nghiệp Việt Nam khi tiếp cận thị trường EU – khu vực có yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, môi trường và truy xuất nguồn gốc.
Trong số các FTA khu vực, Hiệp định AANZFTA (Hiệp định thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN-Australia-New Zealand) ghi nhận kim ngạch sử dụng C/O form AANZ lên tới 4,38 tỷ USD, chiếm tỷ trọng lớn nhất. Australia và New Zealand tiếp tục là những thị trường ổn định đối với nhóm hàng máy móc, thiết bị, nhất là trong các lĩnh vực khai khoáng, nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp chế biến.
Bên cạnh đó, xuất khẩu sử dụng C/O form RCEP đạt 277,6 triệu USD, phản ánh xu hướng doanh nghiệp tận dụng linh hoạt các cam kết khu vực để tối ưu hóa chuỗi cung ứng. Các C/O song phương và khu vực khác như form AI (AIFTA) đạt 441,7 triệu USD, form VK (VKFTA) đạt 441,4 triệu USD cũng cho thấy vai trò ngày càng rõ của thị trường Ấn Độ và Hàn Quốc đối với máy móc, thiết bị Việt Nam.
Ở các thị trường truyền thống và láng giềng, C/O form S theo Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Lào đạt 1,9 triệu USD, góp phần duy trì dòng chảy thương mại ổn định. Trong khi đó, kim ngạch sử dụng C/O form AK theo AKFTA ở mức khiêm tốn, phản ánh sự cạnh tranh mạnh mẽ tại thị trường Hàn Quốc đối với nhóm hàng này.
Số liệu của Cục Hải quan (Bộ Tài chính) cũng cho thấy đà tăng trưởng vững chắc của nhóm hàng máy móc, thiết bị.
Trong nửa đầu tháng 12, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt hơn 2,4 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch từ đầu năm đến ngày 15/12/2026 lên 55,9 tỷ USD.
Theo đánh giá của các chuyên gia, xuất khẩu máy móc, thiết bị gắn chặt với xu hướng nâng cao hàm lượng công nghiệp trong cơ cấu xuất khẩu. Việc tận dụng C/O ưu đãi không chỉ giúp doanh nghiệp giảm chi phí, mà còn thúc đẩy đầu tư vào công nghệ, sản xuất linh kiện và nội địa hóa, từ đó nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km cùng những lợi thế địa kinh tế vượt trội, Việt Nam đang nắm giữ chìa khóa vàng để bứt phá thành một cường quốc kinh tế biển. Tuy nhiên, hành trình vươn khơi của các ngành kinh tế hiện đang vấp phải những rào cản lớn về thể chế quản lý không gian biển...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy nhanh việc xây dựng bản đồ ranh giới đất rừng nhằm hỗ trợ nông sản xuất khẩu đáp ứng quy định EUDR. Đồng thời, các ngành hàng như cà phê, cao su cũng cần bản đồ hóa vùng trồng đến từng thửa đất thay vì chỉ dừng ở cơ sở dữ liệu, tạo nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc, đánh giá rủi ro và nâng cao năng lực quản lý vùng nguyên liệu...
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...