
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa giao Bộ Giao thông Vận tải báo cáo vấn đề thông tin của báo chí phản ánh Cảng Cái Mép - Thị Vải hoạt động chỉ 50% công suất, gây lãng phí đầu tư.
Văn phòng Chính phủ cho biết, vừa qua báo chí có phản ánh Cảng Cái Mép - Thị Vải hoạt động 50% công suất, gây lãng phí đầu tư. Cụ thể, trong năm 2018, hàng container đạt 42,4% công suất do nguồn hàng tại chỗ yếu, chưa có hệ thống quản lý nhà nước về kiểm dịch nên đội chi phí, mỗi container thông quan đắt hơn tại Tp.HCM 1 - 1,25 triệu đồng.
Do đó, 82% hàng hóa thông quan ở nơi khác dù hàng về Cái Mép - Thị Vải. Theo doanh nghiệp, lõi vấn đề tại Cái Mép - Thị Vải là chi phí và chưa có hệ sinh thái.
Tổng giám đốc Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn Ngô Minh Tuấn nhận xét, các cảng ở Cái Mép - Thị Vải vẫn "chưa xứng với tiềm năng và thế mạnh". Nguyên nhân là nguồn hàng tại chỗ yếu, chưa có hệ thống quản lý nhà nước về kiểm dịch tại đây dẫn đến đội chi phí logictics.
Còn theo các doanh nghiệp logictics, mỗi container thông quan tại Cái Mép - Thị Vải đắt hơn tại Tp.HCM từ 1-1,25 triệu đồng. Do đó, 82% hàng hóa làm thủ tục thông quan tại Tp.HCM, Đồng Nai, Bình Dương cho dù hàng về Cái Mép - Thị Vải.
Về phản ánh trên, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ Giao thông Vận tải xử lý và báo cáo.
Cảng Cái Mép – Thị Vải là một cụm cảng biển sâu ở Bà Rịa - Vũng Tàu, ở cửa sông Thị Vải và sông Cái Mép. trong đó Cảng quốc tế Cái Mép (thị xã Phú Mỹ) được thiết kế để tiếp nhận tàu có trọng tải lên đến 80.000 DWT với công suất thông qua đạt 600.000-700.000 TEU mỗi năm. Chiều dài bến là 600 m với tổng diện tích lên tới 48 ha.
Cảng Thị Vải cũng có khả năng tiếp nhận tàu hàng tổng hợp có tải trọng lên đến 75.000 DWT. Công suất thông qua cảng đạt 1,6-2 triệu tấn mỗi năm. Tổng diện tích của cảng là 27 ha.
Cụm cảng quốc tế Cái Mép – Thị Vải có tổng mức đầu tư hơn 12.800 tỷ đồng từ nguồn vốn vay của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA). Công trình này được đưa vào khai thác từ 2013.
Bước vào 6 tháng cuối năm 2026, kinh tế Việt Nam đứng trước cơ hội bứt phá lớn khi tăng trưởng GDP nửa đầu năm đạt mức ấn tượng 8,18%. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đầy tham vọng, nền kinh tế phải đối mặt với không ít áp lực từ xu hướng nhập siêu, áp lực lạm phát và điểm nghẽn giải ngân đầu tư công.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều biến động phức tạp và rủi ro gia tăng, tăng trưởng kinh tế quý 2/2026 và 6 tháng năm 2026 cho thấy những tín hiệu lạc quan của nền kinh tế Việt Nam. Đây là nền tảng vững chắc để nền kinh tế sẵn sàng cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số mà Quốc hội đã đặt ra.
Chính phủ vừa hoàn thiện bộ máy Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, đặt mục tiêu xây dựng một trung tâm tài chính hiện đại, minh bạch và hội nhập quốc tế, gắn với vai trò đầu tàu của TP.Hồ Chí Minh và TP.Đà Nẵng…
6 tháng đầu năm 2026, sản xuất công nghiệp ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng 10,8%, cao nhất kể từ năm 2019. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định vai trò “đầu tàu” dẫn dắt khi tăng tới 11,4%. Kết quả này cùng với dòng vốn FDI đang “chảy” vào mạnh mẽ, sẽ tạo động lực cho ngành công nghiệp Việt Nam bứt phá trong thời gian tới.
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 đã xác lập cột mốc ấn tượng với 549,69 tỷ USD. Dù nhập siêu 16,65 tỷ USD, song kết quả này phản ánh sự phục hồi sản xuất và nhu cầu đầu vào tăng mạnh của khu vực FDI. Đây là tín hiệu tích cực để nền kinh tế tích lũy năng lực, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai chữ số.
Bước vào 6 tháng cuối năm 2026, kinh tế Việt Nam đứng trước cơ hội bứt phá lớn khi tăng trưởng GDP nửa đầu năm đạt mức ấn tượng 8,18%. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đầy tham vọng, nền kinh tế phải đối mặt với không ít áp lực từ xu hướng nhập siêu, áp lực lạm phát và điểm nghẽn giải ngân đầu tư công.
Sự chia sẻ lớn hơn của chính sách tài khóa; các công cụ điều tiết, đảm bảo sự vận hành của thị trường, lưu thông hàng hóa; chính sách về an ninh năng lượng, dự trữ năng lượng... là những giải pháp được đề xuất để giảm áp lực lạm phát từ nay đến cuối năm.