Bài 1: Từ tăng trưởng theo quán tính đến tăng trưởng theo kiến trúc

TS. Nguyễn Bích Lâm (*)

20/03/2026, 08:46

Tăng trưởng theo quán tính là mô hình dựa trên mở rộng đầu vào: tăng lao động, tăng vốn, mở rộng tín dụng, thu hút FDI, khai thác lợi thế chi phí thấp. Mô hình này mang tính “gia tốc theo mở rộng quy mô” hơn là nâng cấp theo chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng...

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Sau bốn thập kỷ đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt những thành tựu quan trọng về quy mô và hội nhập. Bước vào giai đoạn 2026-2030, câu hỏi không còn là “tăng bao nhiêu phần trăm”, mà là “tăng trưởng theo cấu trúc nào” khi dư địa lao động giá rẻ thu hẹp, tín dụng không thể mở rộng vô hạn, chuỗi giá trị toàn cầu tái định hình và tăng trưởng theo quán tính đã chạm giới hạn. Đã đến lúc phải chuyển sang mô hình tăng trưởng theo kiến trúc - với Nhà nước đóng vai trò thiết kế cấu trúc phát triển, thay vì chỉ điều hành nhịp độ.

Từ đầu thập niên 1990 đến nay, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được thúc đẩy bởi ba động lực chính: mở cửa hội nhập thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế về hàng hoá, thu hút FDI và mở rộng tín dụng nội địa. Cấu trúc này giúp nền kinh tế duy trì tốc độ tăng GDP khá cao trong nhiều năm, đưa Việt Nam trở thành nền kinh tế có độ mở thuộc nhóm lớn nhất trong các nền kinh tế toàn cầu.

Tăng trưởng theo quán tính là mô hình dựa trên mở rộng đầu vào: tăng lao động, tăng vốn, mở rộng tín dụng, thu hút FDI, khai thác lợi thế chi phí thấp. Mô hình này mang tính “gia tốc theo mở rộng quy mô” hơn là nâng cấp theo chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Kiến trúc tăng trưởng mới của Việt Nam

Trong nhiều thập kỷ qua, tăng trưởng của Việt Nam được thúc đẩy chủ yếu bởi vốn đầu tư, lao động dồi dào và hội nhập thương mại. Tuy nhiên, khi nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh (tăng trưởng hai chữ số), bền vững và có giá trị gia tăng cao hơn, những động lực truyền thống đang dần bộc lộ giới hạn.

Thách thức lớn nhất hiện nay không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà là thiết kế lại cấu trúc thể chế và hệ sinh thái phát triển để sử dụng hiệu quả các nguồn lực đó. Loạt 4 bài viết tiếp cận câu chuyện tăng trưởng của Việt Nam gồm:

- Bài 1: Từ tăng trưởng theo quán tính đến tăng trưởng theo kiến trúc;

- Bài 2: Hệ sinh thái phát triển có chủ đích và cấu trúc quyền lực kinh tế;

- Bài 3: Vai trò của Nhà nước kiến tạo;

- Bài 4: Những lựa chọn chiến lược của Việt Nam trong trật tự kinh tế mới.

Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy sẽ đăng tải lần lượt các bài viết này trong các số tạp chí, bắt đầu từ số 11 (6404) ngày 16/3/2026.

Giá trị gia tăng nội địa trong nhiều ngành còn thấp; năng suất lao động tăng nhưng chưa tương xứng, khu vực doanh nghiệp trong nước chưa chiếm vị trí chi phối trong các chuỗi giá trị chiến lược. Mô hình này có ba giới hạn cấu trúc: Hiệu suất biên của vốn suy giảm khi nền kinh tế đạt quy mô nhất định, đầu tư thêm không còn tạo ra mức tăng trưởng tương ứng; phụ thuộc vào chuỗi giá trị ngoại sinh nếu công nghệ lõi và thị trường đầu ra ngoài tầm kiểm soát, giá trị gia tăng nội địa bị giới hạn; rủi ro chu kỳ tài chính gia tăng vì tăng trưởng dựa vào mở rộng tín dụng kéo dài dễ tạo ra mất cân đối vĩ mô.

Khi môi trường quốc tế thuận lợi, mô hình tăng trưởng theo quán tính vẫn tạo ra tăng trưởng. Khi bối cảnh kinh tế, chính trị thế giới biến động khó lường, sự phụ thuộc cấu trúc bắt đầu lộ diện. Tăng trưởng theo quán tính có thể duy trì ổn định, nhưng khó tạo ra bước nhảy vọt. Vấn đề không nằm ở tốc độ tăng trưởng 8 - 10%, mà ở chỗ năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) chưa trở thành động lực chính. Khi TFP không dẫn dắt, tăng trưởng sớm muộn sẽ chạm trần.

MÔ HÌNH KINH TẾ HIỆN TẠI ĐÃ TIỆM CẬN GIỚI HẠN 

Mọi mô hình tăng trưởng đều có chu kỳ hiệu lực của nó. Khi các điều kiện nền tảng thay đổi, từ cơ cấu dân số, cấu trúc vốn đến vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu - những động lực từng tạo ra tăng trưởng cao có thể dần suy giảm hiệu quả. Vấn đề không nằm ở việc tăng trưởng có chậm lại hay không, mà ở chỗ các chỉ báo kinh tế bắt đầu phản ánh sự tiệm cận giới hạn cấu trúc của mô hình tăng trưởng hiện tại. Ba tín hiệu kinh tế có thể quan sát rõ:

Thứ nhất, cấu trúc giá trị gia tăng. Trong nhiều ngành xuất khẩu chủ lực, tỷ lệ nội địa hóa còn thấp; khâu thiết kế, thương hiệu và công nghệ lõi vẫn thuộc về doanh nghiệp nước ngoài. Điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam chủ yếu tham gia ở khâu lắp ráp và gia công - nơi biên lợi nhuận thấp, dễ thay thế.

Thứ hai, cấu trúc vốn. Tăng trưởng tín dụng nhiều năm ở mức cao so với tăng trưởng GDP danh nghĩa đã tạo áp lực lên ổn định vĩ mô. Khi tín dụng trở thành động lực chính, nền kinh tế dễ lệ thuộc vào chu kỳ tiền tệ.

Thứ ba, cấu trúc dân số và lao động. Lợi thế dân số vàng đang thu hẹp. Khi chi phí lao động tăng lên, lợi thế cạnh tranh dựa trên giá rẻ mất dần hiệu lực nếu không được thay thế bằng công nghệ và năng suất.

Những tín hiệu này không đồng nghĩa với suy thoái, nhưng là dấu hiệu cảnh báo về trần cấu trúc của mô hình kinh tế hiện nay.

Nền kinh tế có thể tăng trưởng mà không nâng cấp; nhưng không thể nâng cấp nếu không thay đổi cấu trúc tăng trưởng.

TĂNG TRƯỞNG THEO KIẾN TRÚC: TÁI PHÂN BỔ ĐỂ BỨT PHÁ 

Khi các động lực truyền thống dần suy giảm hiệu lực, vấn đề không còn là việc mở rộng thêm bao nhiêu vốn hay lao động, mà là phân bổ lại nguồn lực theo hướng nào.

Lịch sử phát triển cho thấy, bước nhảy vọt về năng suất và vị thế quốc gia không đến từ tăng thêm đầu vào, mà từ việc tái cấu trúc dòng vốn, công nghệ, chính sách vào những điểm nút chiến lược. Chính tại đây, khái niệm tăng trưởng theo kiến trúc trở thành yêu cầu tất yếu, một lựa chọn tái phân bổ để bứt phá, thay vì tiếp tục đi theo quán tính.

Tăng trưởng theo kiến trúc là mô hình kinh tế ở đó Nhà nước chủ động thiết kế cấu trúc phát triển dài hạn, bằng giải pháp xác định ngành chiến lược, phân bổ nguồn lực tập trung, kiến tạo hệ sinh thái và điều phối chính sách liên ngành.

Khác với cách tiếp cận “để thị trường tự chọn ngành thắng cuộc”, mô hình này nhấn mạnh vai trò định hướng chiến lược của Nhà nước trong bối cảnh cạnh tranh địa kinh tế, chính trị gay gắt.

Nhiều quốc gia đã vận dụng cách tiếp cận này ở các mức độ khác nhau. Israel tạo dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo được nhà nước kích hoạt. Tại Israel, đầu thập niên 1990, nền kinh tế đứng trước áp lực hội nhập và tái cơ cấu. Thay vì hỗ trợ dàn trải, Chính phủ lựa chọn cách tiếp cận mang tính thiết kế cấu trúc. Chính phủ không chỉ khuyến khích khởi nghiệp mà chủ động thiết kế hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thông qua quỹ đầu tư mạo hiểm Yozma.

Điểm đặc biệt là Nhà nước chia sẻ rủi ro ban đầu nhưng không can thiệp điều hành, sau một thời gian tư nhân có thể mua lại phần vốn nhà nước. Cách làm này không tạo ra bao cấp, mà kích hoạt thị trường vốn mạo hiểm nội địa.

Cùng với công cụ tài chính, Israel xây dựng mối liên kết chặt giữa khu vực quốc phòng công nghệ cao với đại học và doanh nghiệp khởi nghiệp. Công nghệ lõi được ươm tạo trong môi trường nghiên cứu, sau đó thương mại hóa nhanh chóng. Chính sự kết nối ba trụ cột này đã hình thành một hệ sinh thái khởi nghiệp có mật độ cao bậc nhất thế giới.

Singapore với mô hình điều phối tập trung và quy hoạch ngành chiến lược. Singapore chọn cách xây dựng hệ sinh thái dựa trên nền tảng thể chế và điều phối chiến lược, quy hoạch ngành mũi nhọn, xây dựng cụm liên kết chiến lược trong lĩnh vực tài chính, logistics và công nghệ cao.

Vai trò điều phối mạnh mẽ, nhất quán của Nhà nước Singapore tạo môi trường thể chế minh bạch, ổn định, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và đảm bảo chi phí giao dịch thấp. Niềm tin thể chế trở thành nền móng thu hút dòng vốn toàn cầu. Hệ sinh thái tài chính, công nghệ, logistics và dịch vụ cao cấp không hình thành tự phát, mà vận hành trong một cấu trúc điều phối thống nhất.

Hàn Quốc với chiến lược công nghiệp hóa dựa trên các tập đoàn đầu tàu. Khác với Israel và Singapore, Hàn Quốc thực hiện chiến lược công nghiệp hóa có chọn lọc, tập trung nguồn lực vào các ngành trụ cột, đầu tư lớn cho R&D và giáo dục. Chính phủ hỗ trợ tín dụng và chính sách nhưng gắn chặt với điều kiện xuất khẩu, nâng cấp công nghệ và cạnh tranh quốc tế. Doanh nghiệp không đạt tiêu chuẩn sẽ không tiếp tục được nhận hỗ trợ.

Hàn Quốc xây dựng các cụm công nghiệp nơi doanh nghiệp đầu chuỗi, nhà cung ứng nội địa, viện nghiên cứu và chính quyền địa phương cùng vận hành trong một hệ thống liên kết. Sự gắn kết giữa chính sách công nghiệp và năng lực doanh nghiệp tạo ra bước chuyển mạnh mẽ về năng suất và vị thế công nghệ.

Điểm chung của ba quốc gia này không nằm ở mô hình thể chế giống nhau, mà ở khả năng kiến tạo cấu trúc phát triển có chủ đích. Không phải là sự can thiệp của Nhà nước mà là tư duy và năng lực thiết kế hệ sinh thái dài hạn, nhất quán, có trọng tâm và phương pháp tổ chức phát triển. Tăng trưởng cao không đến từ ngẫu nhiên thị trường, mà từ thiết kế chiến lược dài hạn...

TÁI THIẾT CẤU TRÚC LÀ YÊU CẦU TẤT YẾU 

Khi giới hạn cấu trúc đã lộ diện và nhu cầu tái thiết trở nên rõ ràng, câu hỏi không còn là “có nên thay đổi hay không”, mà là “thay đổi vào thời điểm nào”, bởi thời điểm quyết định quan trọng không kém việc ban hành và thực thi chính sách. Mỗi chu kỳ tái cấu trúc kinh tế toàn cầu đều mở ra cơ hội, nhưng cũng hàm chứa cái giá phải trả rất lớn nếu chậm trễ.

Giai đoạn 2026-2030 chính là thời điểm như thế, bởi giai đoạn này mang tính bản lề đối với nền kinh tế nước ta bởi ba lý do: chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc; công nghệ Al và bán dẫn làm thay đổi cấu trúc sản xuất; áp lực chuyển đổi xanh buộc doanh nghiệp nâng cấp công nghệ.

Nếu Việt Nam chủ động kiến tạo cấu trúc kinh tế phù hợp sẽ tạo ra chu kỳ tăng trưởng mới. Ngược lại, nếu tiếp tục duy trì cấu trúc cũ, nền kinh tế sẽ đối mặt với chi phí cơ hội rất lớn - bị mắc kẹt ở khâu giá trị thấp, trong khi các quốc gia khác chiếm lĩnh công nghệ lõi. Trong cạnh tranh địa kinh tế, chậm một chu kỳ đồng nghĩa với mất cả thập kỷ.

Nhận diện được cơ hội là bước đầu, biến cơ hội thành tăng trưởng thực chất là câu chuyện khác. Chuyển sang mô hình tăng trưởng theo kiến trúc không thể chỉ dừng ở tuyên bố định hướng, mà đòi hỏi những điều kiện nền tảng đủ mạnh để bảo đảm quá trình chuyển đổi diễn ra thực chất, đồng bộ.

Để tăng trưởng theo kiến trúc trở thành hiện thực, cần ba điều kiện kinh tế cốt lõi:

Một là, lựa chọn ưu tiên chiến lược có cơ sở dữ liệu và phân tích lợi thế động. Không thể chọn ngành theo phong trào, phải dựa trên khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và nâng cao TFP.

Hai là, tái cấu trúc tài chính công theo hướng tập trung. Đầu tư công cần đóng vai trò vốn xúc tác, tạo hiệu ứng lan tỏa và thu hút nguồn lực tư nhân cho hệ sinh thái chiến lược, thay vì phân bổ dàn trải theo địa giới hành chính.

Ba là, thiết lập cơ chế điều phối liên ngành mạnh. Chính sách giáo dục, tín dụng, thuế và hạ tầng phải đồng bộ theo mục tiêu ngành, nếu không sẽ triệt tiêu lẫn nhau. Nếu thiếu đồng bộ, mô hình kiến trúc sẽ biến thành chính sách ưu đãi đơn lẻ.

Tăng trưởng theo quán tính đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử trong giai đoạn hội nhập và mở rộng quy mô. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu và giới hạn nội tại ngày càng rõ rệt, mô hình này không còn đủ để đưa Việt Nam tiến lên nấc thang phát triển cao hơn.

Chuyển sang tăng trưởng theo kiến trúc không phải là thay đổi vai trò thị trường, mà là nâng cấp vai trò Nhà nước từ điều hành chu kỳ sang thiết kế cấu trúc dài hạn. Không phải tốc độ tăng trưởng quyết định vị thế quốc gia, mà là cấu trúc phía sau tốc độ đó tạo nên vị thế quốc gia...

---

(*) Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính)

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 11-2026 phát hành ngày 16/03/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.html 

VnEconomy

Đọc thêm

Dòng sự kiện

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Giá vàng trong nước và thế giới

Giá vàng trong nước và thế giới

VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.

Bài viết mới nhất

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.

Bài viết mới nhất

Trợ lý thông tin kinh tế Askonomy - Asko Platform

Trợ lý thông tin kinh tế Askonomy - Asko Platform

Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...

Bài viết mới nhất

Mở rộng cơ chế để ngân hàng thương mại nhà nước đạt mục tiêu bảo toàn vốn và điều tiết thị trường

Mở rộng cơ chế để ngân hàng thương mại nhà nước đạt mục tiêu bảo toàn vốn và điều tiết thị trường

Mức độ thâm dụng tín dụng trong nền kinh tế giai đoạn 2021 – 2025

Mức độ thâm dụng tín dụng trong nền kinh tế giai đoạn 2021 – 2025

Đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 11-2026

Đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 11-2026

Asko AI Platform

Askonomy AI

...

icon

Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?

Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính:

VnEconomy