
Đây là kế hoạch phát triển nhà ở tại địa bàn tỉnh Bình Định theo quyết định 1411/QĐ-UBND mà UBND Bình Định vừa ban hành.
Theo quyết định này, giai đoạn 2020 - 2025, toàn tỉnh Bình Định phát triển khoảng 11.065.921 m2 sàn nhà ở, tương đương 107.407 căn nhà. Trong các loại hình nhà ở phát triển mới, nhà ở dân tự xây chiếm tỷ trọng chủ yếu với khoảng 6.612.549 m2 sàn, chiếm 59,75%; nhà ở thương mại phát triển thêm 3.567.754 m2 sàn, chiếm 32,25%; nhà ở xã hội phát triển thêm 885.618 m2 sàn, chiếm 8,0%.
Để xây dựng các loại nhà ở giai đoạn 2020-2025, cần khoảng 11.796ha đất. Trong đó, 11.247ha để xây dựng nhà thương mại; khoảng 74,8ha là đất nhà ở xã hội và khoảng 473,9ha là đất nhà ở tái định cư.
Tại 11 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh, thành phố Quy Nhơn quy tụ nhiều nhà ở thương mại nhất với 49 dự án, sau đó là thị xã Hoài Nhơn với 40 dự án và huyện Phù Cát 27 dự án. Quy Nhơn cũng là địa bàn có nhiều dự án đầu tư nhà ở xã hội với 25 dự án. Trong khi đó, số dự án nhà ở tái định cư tập trung chủ yếu tại huyện Phù Cát, thị xã Hoài Nhơn, huyện Hoài Ân, huyện Vĩnh Thạnh.
Cũng theo kế hoạch của uỷ ban nhân dân Bình Định, diện tích nhà ở bình quân toàn tỉnh sẽ tăng từ 25,3 m2/người vào năm 2020 lên 28,9 m2/người vào năm 2025. Trong đó, khu vực đô thị đạt 30 m2/người, khu vực nông thôn đạt 28 m2/người. Diện tích nhà ở tối thiểu toàn tỉnh năm 2020 đạt 8,5 m2/người, đến năm 2025 sẽ là 10 m2/người.
Để thu hút đầu tư vào các dự án nhà ở, Bình Định chủ trương đơn giản hoá các thủ tục cấp phép xây dựng; rút ngắn thủ tục hành chính trong việc lựa chọn nhà đầu tư; bổ sung cơ chế phối hợp giữa các đơn vị liên quan; rà soát các dự án không khả thi và xử lý triệt để tình trạng không phép, trái phép. Nhằm tạo điều kiện cho người dân có thể mua, thuê, thuê mua, tỉnh khuyến khích áp dụng các vật liệu mới, công nghệ xây dựng hiện đại… để giảm giá bán.
Ba kịch bản được đưa ra cho thị trường bất động sản Việt Nam trong 6 tháng cuối năm 2026, gồm: kịch bản thách thức, kỳ vọng và lý tưởng, tương ứng với những diễn biến khác nhau có thể xảy ra của kinh tế vĩ mô, lãi suất và dòng vốn. Trong đó, kịch bản kỳ vọng được nhận định có xác suất xảy ra cao nhất…
Thị trường bất động sản đang bước vào một chu kỳ phát triển mới, được dẫn dắt bởi quy hoạch, hạ tầng, tính minh bạch của thị trường và nhu cầu ở thực. Xu hướng này đang thể hiện rõ nét tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh...
Hải Phòng tập trung tháo gỡ vướng mắc về giải phóng mặt bằng cho 9 dự án khu công nghiệp để có thêm 1.900 ha mặt bằng sạch đất công nghiệp…
Nhu cầu nhà ở của đại đa số người dân lao động tại đô thị rất lớn nhưng nguồn cung nhà ở giá phù hợp lại vô cùng hạn chế. Trong khi đó, vẫn có nhiều khu đô thị bị bỏ hoang và hàng ngàn dự án vẫn “đắp chiếu” do vướng mắc pháp lý, tương đương với hàng triệu tỷ đồng đang bị “chôn” vào đất; quy hoạch đất đai cũng còn không ít bất cập; doanh nghiệp bất động sản gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai dự án…
Lộ trình thực hiện dự án cải tạo sông Nhuệ được đề xuất chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn 1 dự kiến kéo dài từ khi khởi công đến hết năm 2028, thực hiện đoạn từ cống Liên Mạc đến đường Vành đai 4 với chiều dài 30,5km. Giai đoạn 2 tiếp nối từ năm 2029 đến năm 2030 để hoàn thiện 31km còn lại, kéo dài từ đường Vành đai 4 đến hết địa phận Hà Nội...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.