Cục Đường bộ Việt Nam vừa kiến nghị Bộ
Xây dựng các giải pháp tăng cường kết nối hạ tầng đường bộ, nhằm thúc đẩy phát
triển vận tải đa phương thức và nâng cao hiệu quả logistics.
NHIỀU CẢNG BIỂN, SÂN BAY VẪN THIẾU KẾT NỐI ĐƯỜNG BỘ ĐỒNG BỘ
Thời gian qua, mạng lưới đường bộ quốc gia đã được quy hoạch và đầu tư theo hướng tăng cường liên kết với các đầu mối vận tải trọng điểm. Các trục giao thông huyết mạch, đặc biệt là hành lang kinh tế Bắc – Nam, các hành lang Đông – Tây và các tuyến kết nối vùng, đã góp phần gắn kết các trung tâm kinh tế lớn với cảng biển, cửa khẩu và sân bay.
Theo Cục Đường bộ Việt Nam, vận tải đường bộ hiện vẫn giữ vai trò chủ lực trong cơ cấu vận tải, đảm nhận khoảng 75% khối lượng hàng hóa và hơn 90% vận chuyển hành khách. Với tính linh hoạt và khả năng tiếp cận nhanh, đường bộ đóng vai trò “mắt xích trung tâm”, kết nối hiệu quả với các loại hình vận tải khác như đường biển, đường sắt, hàng không và đường thủy nội địa.
Phần lớn các cảng biển
và cảng hàng không hiện đã có kết nối với hệ thống đường bộ. Nhiều tuyến cao
tốc, quốc lộ trọng điểm dẫn tới các khu bến lớn như Lạch Huyện hay Cái Mép –
Thị Vải, cũng như các sân bay lớn, đã góp phần cải thiện đáng kể năng lực vận
chuyển hàng hóa và hành khách.
Sau 5 năm triển khai quy hoạch, hơn
3.300 km đường cao tốc đã được đưa vào khai thác, chủ yếu trên các hành lang
kinh tế trọng điểm và các tuyến kết nối cảng biển lớn. Nhờ đó, hiệu quả khai
thác cảng biển được nâng lên rõ rệt, trong đó vận tải đường bộ đảm nhận khoảng
70–80% sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng.
Tuy vậy, hệ thống kết nối vẫn bộc lộ
không ít hạn chế. Nhiều tuyến đường dẫn vào cảng biển, sân bay nằm trong khu
vực đô thị thường xuyên quá tải do phải “gánh” đồng thời lưu lượng giao thông
đô thị và vận tải hàng hóa. Việc đầu tư kết nối ở một số dự án chưa đồng bộ,
đặc biệt trong giai đoạn đầu khai thác các cảng, sân bay mới.
Bên cạnh đó, kết nối với đường sắt
còn hạn chế khi nhiều ga hàng hóa lớn nằm trong khu vực đô thị đông đúc, gây
khó khăn cho phương tiện tải trọng lớn tiếp cận. Đối với đường thủy nội địa, hệ
thống kết nối vẫn phụ thuộc vào đường địa phương, nhiều tuyến chưa đáp ứng yêu
cầu về tải trọng, ảnh hưởng đến vận chuyển, nhất là hàng container.
Trong bối cảnh chi phí logistics của
Việt Nam vẫn ở mức cao, khoảng 16,8–17% GDP (so với mức trung bình thế giới
khoảng 10,6%), vận tải vẫn phụ thuộc lớn vào đường bộ, làm gia tăng áp lực lên
hệ thống hạ tầng.
BỔ SUNG THÊM CÁC TUYẾN ĐƯỜNG BỘ KẾT NỐI VỚI ĐẦU MỐI VẬN TẢI
Trước thực tế đó, việc tăng cường
liên kết giữa đường bộ và các phương thức vận tải khác được xác định là yêu cầu
cấp thiết, nhằm nâng cao hiệu quả vận chuyển, giảm chi phí logistics và cải
thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Theo Cục Đường bộ Việt Nam,
trước hết cần hoàn thiện khung pháp lý, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính,
đặc biệt là đơn giản hóa kiểm tra chuyên ngành theo hướng “một lần kiểm tra”
đối với hàng hóa vận tải đa phương thức, nhất là hàng xuất nhập khẩu.
Song song với đó, cần rà soát và bổ
sung quy hoạch các tuyến đường bộ kết nối với các đầu mối vận tải mới, đồng
thời tích hợp phương án kết nối ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án, nhằm đảm bảo
tính đồng bộ về quy mô và tiến độ khai thác.
Việc ưu tiên bố trí nguồn vốn, bao
gồm ngân sách Nhà nước và vốn ODA cho các dự án tăng cường kết nối cũng được
xem là giải pháp then chốt, nhất là tại các khu vực có nhu cầu vận tải lớn hoặc
có nguy cơ quá tải trong tương lai.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh huy động
nguồn lực xã hội, cân đối hợp lý giữa vốn Nhà nước và vốn ngoài ngân sách trong
phát triển hạ tầng giao thông, qua đó góp phần giảm chi phí vận tải và nâng cao
sức cạnh tranh của hàng hóa.
Đặc biệt, Cục Đường bộ cũng nhấn mạnh vai
trò của khoa học – công nghệ và chuyển đổi số trong vận tải, như triển khai hợp
đồng điện tử, theo dõi hành trình hàng hóa theo thời gian thực, qua đó tăng
cường “kết nối mềm” giữa các phương thức và nâng cao hiệu quả vận hành của hệ
thống vận tải đa phương thức trong thời gian tới.