Nội dung được đề cập tại Quyết định số 1069/QĐ-BYT của Bộ Y tế ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình bảo đảm mức sinh thay thế trên
toàn quốc đến năm 2030.
Mục tiêu nhằm tăng tỷ lệ sinh để đạt và
duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực,
góp phần thực hiện thành công chiến lược dân số Việt Nam đến năm 2030, bảo đảm
phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Đến năm 2030, tăng trung bình 2% tổng tỷ suất sinh
trên toàn quốc mỗi năm. Đồng
thời, trên 95% các cặp vợ chồng nam nữ trong độ tuổi sinh đẻ được cung cấp
thông tin về kết hôn sinh con để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc. 100% tỉnh, thành phố thực
hiện các chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng cá nhân sinh con, nuôi con.
Để thực hiện được các mục tiêu đề ra, tại kế hoạch,
Bộ Y tế đề ra nhiều nhóm giải pháp, như điều chỉnh, hoàn thiện các chính
sách hỗ trợ, khuyến khích.
Tập trung vào việc rà soát, đề xuất sửa
đổi các quy định không phù hợp với mục tiêu đạt và duy trì vững chắc mức sinh
thay thế, đặc biệt là các quy định xử lý vi phạm chính sách dân số hiện hành.
Đề xuất ban hành quy định về việc
đề cao tính tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc sinh
con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc để đạt và duy trì mức
sinh thay thế.
Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và khả
năng cân đối ngân sách nhà nước, các tỉnh, thành phố có chính sách hỗ trợ cặp vợ
chồng, cá nhân sinh con, nuôi con nhằm đạt và duy trì mức sinh thay thế bền vững; ưu tiên đối với tỉnh, thành
phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế, dân tộc thiểu số rất ít người.
Các hoạt động chủ yếu gồm rà soát, đánh giá, đề
xuất bổ sung mở rộng đối tượng được thụ hưởng chính sách hỗ trợ, khuyến khích
hiện hành.
Cùng với đó, khảo sát, đánh giá nhu cầu,
khả năng tiếp cận; triển khai thực hiện hỗ trợ phương tiện tránh thai, chi phí
dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cho các đối tượng thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối
tượng bảo trợ xã hội; đối tượng thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi, đơn vị hành chính cấp xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải
đảo; xã thuộc khu vực biên giới đất liền.
Thực hiện các chính sách khuyến
khích sinh con áp dụng cho các gia đình, cộng đồng, ưu tiên và chú trọng đối với
địa bàn có mức sinh dưới mức sinh thay thế, dân tộc thiểu số rất ít người.
Tiếp tục rà soát, bãi bỏ các quy
định của các tổ chức, cơ quan, đơn vị, cộng đồng liên quan đến mục tiêu giảm
sinh, tiêu chí giảm sinh con thứ 3 trở lên... Sửa đổi, bổ sung các chính sách
khuyến khích sinh con áp dụng cho gia đình, cộng đồng.
Thực hiện các chính sách hỗ trợ
các cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi dạy con tốt; đồng thời có chính sách
khuyến khích không kết hôn muộn không sinh con muộn và không sinh ít con.
Giải pháp nữa cũng được tính đến là nghiên
cứu đánh giá tác động của chính sách lao động, việc làm, nhà ở, phúc lợi xã hội,
giáo dục, y tế...đến quyết định sinh con, sinh ít con; kết hôn muộn và không
kết hôn. Sửa đổi, bổ sung các chính sách hỗ trợ cặp vợ chồng, cá nhân sinh con,
nuôi dạy con tốt; khuyến khích nam - nữ thanh niên không kết hôn muộn.
Bên cạnh đó, Bộ Y tế cũng sẽ thí điểm,
triển khai mở rộng các biện pháp hỗ trợ các cặp vợ chồng sinh con, sinh đủ hai
con, phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi. Trên cơ sở sơ kết, đánh giá các biện
pháp thí điểm hỗ trợ, ban hành các chính sách hỗ trợ phù hợp.
Một số nội dung, khuyến khích hỗ
trợ như: Hỗ trợ tư vấn, cung cấp dịch vụ hôn nhân và gia đình; phát triển câu lạc bộ kết bạn trăm
năm, hỗ trợ nam, nữ thanh niên kết bạn; khuyến khích nam, nữ kết hôn trước 30
tuổi, không kết hôn muộn và sớm sinh con; xây dựng môi trường, cộng đồng phù hợp với các gia đình nuôi con
nhỏ; các dịch vụ thân thiện với người lao động như đưa đón trẻ, trông trẻ,
ngân hàng sữa mẹ, bác sĩ gia đình...
Căn cứ quy hoạch chung, bố trí địa
điểm xây dựng các điểm trông, giữ trẻ, nhà mẫu giáo phù hợp với điều kiện của
bà mẹ, nhất là các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị.
Chính sách hỗ trợ phụ nữ khi
mang thai, sinh con và sinh đủ hai con: Tạo điều kiện trở lại nơi làm việc cho
phụ nữ sau khi sinh con; miễn giảm các khoản đóng góp công ích theo hộ gia
đình.
Hỗ trợ, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con: ưu tiên vào các
trường công lập, hỗ trợ chi phí giáo dục trẻ em…
Theo báo cáo của Bộ Y tế, trên phạm vi
toàn quốc, mức sinh xuống thấp dưới mức sinh thay thế, giảm từ 2,11 con/phụ nữ
(2021) xuống 1,91 con/phụ nữ (2024) và 1,93 con/phụ nữ (2025), không đạt mục
tiêu duy trì vững chắc mức sinh thay thế trên toàn quốc giai đoạn 2020-2025.
Trước ngày 1/7/2025: Tại 21 tỉnh có mức sinh thấp, có 10/21
tỉnh tăng tổng tỷ suất sinh (TFR) và 11/21 tỉnh tiếp tục giảm TFR, dự kiến khó đạt được chỉ
tiêu tăng 10% TFR ở các tỉnh có mức sinh thấp đến năm 2030.
Theo số liệu của Cục Thống kê năm
2024, có 18/63 tỉnh có
TFR dưới 1,8 con/phụ nữ, rất thấp so với mức sinh thay thế, đặc biệt các địa phương như TP.HCM (1,39 con/phụ nữ), Cần
Thơ (1,45 con/phụ nữ), khó phục hồi về mức sinh thay thế.
Tại 33 tỉnh có mức sinh cao, có
24/33 tỉnh giảm TFR; 9/33
tỉnh tăng TFR, dự kiến
khó đạt được chỉ tiêu giảm 10% TFR ở các tỉnh có mức sinh cao đến năm 2030.
Tại 9 tỉnh có mức sinh thay thế,
có 6 tỉnh duy trì TFR xung quanh mức sinh thay thế, 2 tỉnh tăng TFR trên mức sinh thay thế,
tỉnh Trà Vinh giảm TFR dưới mức sinh thay thế, dự kiến khó đạt được chỉ tiêu
duy trì mức sinh thay thế đến năm 2030.
Sau ngày 1/7/2025: Theo số liệu của
Cục Thống kê (Bộ Tài chính), số liệu về mức sinh năm 2025 cho thấy 11/34 tỉnh có mức sinh dưới
2,0 con/phụ nữ, 19/34 tỉnh có mức sinh từ 2,2 con/phụ nữ trở lên và 4/34 tỉnh
có mức sinh xung quanh mức sinh thay thế từ 2,0 - 2,2 con/phụ nữ.
Kết quả đánh giá các mục tiêu
Chương trình Điều chỉnh mức sinh cho thấy, xu hướng giảm sinh đang diễn ra trên
phạm vi rộng cả ở nơi có mức sinh cao cũng như nơi có mức sinh thấp. Dự báo đến
năm 2030 khó đảm bảo mục tiêu duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc.