
Cám nguyên liệu nhập khẩu đang cho thấy những dấu hiệu tăng trưởng đột biến trong hơn hai năm qua.
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam cho thấy kim ngạch nhập khẩu các loại cám nguyên liệu của cả nước trong bốn tháng đầu năm nay đạt 35,43 triệu Đô la Mỹ, tăng 16,65 triệu Đô la Mỹ (tương đương tăng 89%) so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 18,76 triệu Đô la Mỹ (tương đương tăng 113%) so với cùng kỳ năm 2008.
Nếu chỉ tính riêng trong tháng 4/2010, nhập khẩu tiểu ngành này của Việt Nam đạt 8,66 triệu Đô la Mỹ, lần lượt tăng 3,1 và 2,63 triệu Đô la Mỹ (tương đương tăng 56% và 44%) so với cùng kỳ năm 2009 và 2008. Các số liệu trên là minh chứng rõ ràng nhất cho xu hướng bùng nổ trong nhập khẩu cám.
Trong cơ cấu nhập khẩu của tiểu ngành cám nguyên liệu, cám mì nhiều năm gần đây vẫn chiếm tỷ lệ lớn với khoảng 70-75%, tiếp đến là cám từ cây họ đậu và một số loại cám từ họ ngũ cốc khác. Bốn tháng đầu năm nay, kim ngạch nhập khẩu cám mì của Việt Nam đạt 25,85 triệu Đô la Mỹ, tăng 9,8 triệu Đô la Mỹ (tương đương tăng 61%) so với cùng kỳ năm 2009.
Nguyên nhân khiến cám mì thường chiếm tỷ trọng lớn như trên là do nguyên liệu này hiện nay nước ta chưa có khả năng tự cung ứng. Trong khi đó, mỗi năm sản xuất lúa gạo của chúng ta có thể cung cấp cho ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi khoảng 5-6 triệu tấn phụ phẩm, chính là cám gạo, một trong những nguồn nguyên liệu quan trọng bổ sung calories cho các sản phẩm thức ăn chăn nuôi. Do đó, lượng cám gạo Việt Nam phải nhập khẩu thường ở mức rất thấp, chiếm chưa đến 1% tổng kim ngạch nhập khẩu các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi.
Theo số liệu chính thức của hải quan Việt Nam, các nhà xuất khẩu cám lớn nhất sang Việt Nam trong năm 2009 là Indonesia (33,15%), Sri Lanka (31,32%), và Ấn Độ (20,72%).
Tỷ lệ này trong bốn tháng đầu năm nay lần lượt là: 12,81%, 25,82% và 21,71%.
Như vậy, sự thay đổi đáng kể nhất trên thị trường cám nhập khẩu của Việt Nam xét về yếu tố đối tác hiện nay chính là sự đánh mất vai trò của Trung Quốc. Nếu như từ năm 2008 trở về trước, Trung Quốc là đối tác xuất khẩu cám mì lớn nhất sang Việt Nam thì năm 2009, nước này đánh mất gần 40% thị phần.
Bốn tháng đầu năm 2010, Trung Quốc không có tên trong danh sách các nhà cung cấp cám mì cho Việt Nam, thay vào đó là Sri Lanka, Indonesia và Tanzania.
Sự bùng nổ nhập khẩu cám nguyên liệu của Việt Nam những năm gần đây, ngoài nguyên nhân mở rộng quy mô ngành công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi trên cả nước, còn có một nguyên nhân không kém phần quan trọng là tốc độ leo thang chóng mặt của giá cả các loại nguyên liệu trong nước, điển hình là cám gạo.
Cụ thể, kể từ tháng 6/2009, giá mặt hàng này hầu như luôn trong xu thế tăng và đặc biệt tăng nhanh trong bốn tháng cuối năm. Tính đến cuối tháng 12/2009 giá cám bán lẻ tại An Giang đã lên mức 5.250 đồng/kg, tức là cao hơn 17,53% so với mức giá trung bình tháng 11, cao hơn gần hai lần mức giá hồi đầu năm và cao hơn 2,1 lần mức giá cùng kỳ năm 2008.
Bên cạnh việc tăng giá do tác động liên đới từ các thị trường nguyên liệu thay thế, giá cám gạo trong nước tăng cao còn từ nguyên nhân giá gạo hồi phục. Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam cuối quí 3 đã hồi phục khá mạnh sau các thương vụ ký thêm với Philippines cũng như khi thị trường đón nhận thông tin Ấn Độ dự định tăng cường nhập khẩu.
Bước sang năm 2010, mặc dù đợt sốt giá đã có chiều hướng hạ nhiệt nhưng nguy cơ tăng giá vẫn tiềm ẩn tại hầu hết các thị trường nguyên liệu nội địa. Riêng giá mặt hàng cám gạo trong nước tiếp tục tăng thêm 250-300 đồng/kg trong tháng 6, lên mức 4.680-4.700 đồng/kg (cao hơn 7% so với giá trung bình tháng trước đó và cao hơn 32% so với cùng kỳ năm 2009).
Đáng lưu ý hơn nữa là chu kỳ tăng giá của mặt hàng cám nguyên liệu trong nước thường bắt đầu từ đầu tháng 6 hàng năm và kết thúc vào thời điểm cuối năm, do vậy, không loại trừ khả năng thị trường có thể đón nhận một đợt tăng giá mới trong tương lai không xa.
Trong khi thị trường thế giới vẫn đang nằm trong một mặt bằng giá tương đối thấp do nhiều thông tin xấu tại các nước châu Âu cũng như trên toàn cầu thì giá nguyên liệu nội địa tại Việt Nam vẫn đủng đỉnh đi lên. Với tình hình đó, khả năng các doanh nghiệp ngày càng tìm đến nhiều hơn với nguồn cung nhập khẩu là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
Phan Hồng Liên
(TBKTSG)




Thị trường vận tải biển quốc tế từ đầu tháng 5/2026 đến nay đang chứng kiến đợt tăng giá cước mạnh trên nhiều tuyến vận chuyển trọng điểm, đặc biệt là các tuyến kết nối châu Á với Bắc Mỹ và châu Âu. Đối với ngành thủy sản Việt Nam, đây là diễn biến đáng lo ngại bởi logistics luôn là một trong những khoản chi phí lớn nhất trong cơ cấu giá thành xuất khẩu...
Kết quả thẩm tra và phê duyệt cập nhật Danh sách doanh nghiệp thủy sản Việt Nam được phép xuất khẩu vào thị trường Đài Loan là cơ sở quan trọng giúp các doanh nghiệp duy trì hoạt động xuất khẩu ổn định, nâng cao khả năng tiếp cận và mở rộng thị phần...
Từ 1/7/2026, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận và chứng nhận lại chủng loại gạo thơm xuất khẩu sang EU và Vương quốc Anh để được hưởng ưu đãi thuế quan theo các Hiệp định EVFTA và UKVFTA sẽ chính thức được giao về địa phương. Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính, hướng tới mô hình quản lý linh hoạt hơn, sát thực tiễn hơn và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp...
Xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng trong những tháng đầu năm 2026 nhờ sự bứt phá của các thị trường châu Á, đặc biệt là Trung Quốc. Tuy nhiên, ngành gỗ cũng đang đối mặt với nhiều thách thức từ các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu xanh hóa ngày càng khắt khe từ EU và áp lực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để nâng cao năng lực cạnh tranh...
Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN (USABC) vừa có kiến nghị liên quan đến công tác quản lý nhập khẩu hóa chất của cơ quan chức năng Việt Nam. Theo Bộ Tài chính, đơn vị đã đề xuất lên Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Công thương rà soát, sửa đổi Nghị định số 26/2026/NĐ-CP để xử lý những bất cập trong quá trình triển khai.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.