
Sản xuất và xuất khẩu cà phê Việt Nam trong niên vụ 2005/2006 đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, chất lượng cà phê Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn đến.
Sau đây là nội dung cuộc trao đổi của chúng tôi với ông Đoàn Triệu Nhạn–Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội cà phê và cacao VN
Ông đánh giá như thế nào về vụ cà phê 2005/2006 và triển vọng của vụ cà phê 2006/2007?
Cuộc khủng hoảng thừa cà phê đã kéo giá cà phê thế giới xuống liên tục, đến năm 2005/2006 lại được cải thiện đáng kể.
Nhưng thời kỳ này, Việt Nam bị hạn hán đầu vụ cà phê, nên sản lượng vụ 2005/2006 của ta kém, may gặp giá cao nên thu nhập toàn ngành cũng được cải thiện.
Theo thống kê chứng chỉ xuất xứ của VCCI, vụ cà phê 2005/2006 đã xuất khẩu 775.457 tấn, trị giá gần 827 triệu USD (bình quân 1.066,5 USD/tấn). Nếu tính đến hết năm 2006 thì xuất khẩu là 808.375 tấn, gần 957 triệu USD (bình quân 1.183,7 USD/tấn).
Đây là chưa kể lượng hàng hoá không lấy chứng chỉ xuất xứ, nên theo thống kê của Tổng cục Hải quan, năm 2006 có 912.553 tấn cà phê xuất khẩu, đạt trên 1,121 tỷ USD.
Ngoài ra, còn xuất khẩu 869,7 tấn cà phê hoà tan, trị giá 2.770.341 USD, sang 25 nước và vùng lãnh thổ.
Trên thế giới, vụ cà phê 2006-2007 dự kiến được mùa, sản lượng có thể vượt 15 triệu bao, xuất khẩu từ 81,3 triệu bao (niên vụ 2005-2006) có thể lên 97 triệu bao, xấp xỉ mức 99 triệu bao là mức cao nhất ở vụ 2002-2003.
Do được mùa, giá cà phê có thể giảm thấp, nhưng không thể ở mức không chấp nhận được.
Chất lượng cà phê gắn bó mật thiết với khả năng cạnh tranh. Ông suy nghĩ gì về vấn đề này?
Cà phê Robusta của Việt Nam có chất lượng cao trên thế giới, do nó có nguồn gốc từ châu Phi nóng và ẩm, sang Việt Nam được trồng ở cao nguyên khí hậu nhiệt đới, có biên độ nhiệt độ ngày đêm cao, nên chất lượng cao.
Tuy vậy, chúng ta còn yếu kém ở khâu trồng trọt, thu hái, chế biến, bảo quản, vận chuyển, nên cà phê Robusta bị giảm thơm ngon.
Có nhiều biện pháp khắc phục, nhưng theo tôi rất cần làm ngay, làm triệt để về quản lý chất lượng theo quy định của Tổ chức cà phê Quốc tế (ICO). Mục tiêu đầu tiên của chương trình cải tiến chất lượng cà phê là làm tăng sự bền vững của kinh tế cà phê, thông qua việc tăng lượng tiêu dùng, tăng cà phê có giá trị gia tăng, thoả mãn người tiêu dùng.
Là thành viên của ICO, chúng ta bắt buộc phải thực hiện chương trình chất lượng cà phê theo Nghị quyết 420, ngày 1/6/2004. Theo đó, các nước xuất khẩu cà phê phải ghi vào chứng chỉ xuất xứ (C/O), những thông tin về chất lượng cà phê xuất khẩu của mình.
Trong số 25 nước đã thực hiện yêu cầu đó, không có Việt Nam, vì bản tiêu chuẩn Nhà nước TCVN 4193:2005 (đã được ICO coi là văn bản chuẩn để phân loại cà phê) chưa được áp dụng. Đây hoàn toàn là sự yếu kém trong quản lý chất lượng hàng hoá xuất khẩu.
Chúng ta có nhiều cà phê xấu, kém bị thải loại ở các cảng châu Âu, là do bán cà phê ở dạng “xô” phân loại theo tiêu chuẩn cũ TCVN 4193-93. Bản tiêu chuẩn này chỉ đánh giá cà phê xuất khẩu rất đơn giản theo 3 chỉ tiêu về phần trăm lượng ẩm, hạt đen vỡ và tạp chất, mà không xếp hạng theo số lỗi trong cà phê.
Bởi thế, khách hàng mua cà phê xô với giá thấp, sau đó chọn lọc cà phê tốt (khá nhiều) rồi bán giá cao, thu lợi nhuận cao hơn so với mua cà phê đã phân loại.
Đề nghị bắt buộc kiểm tra chất lượng cà phê xuất khẩu, chỉ xuất khẩu cà phê đạt tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4193:2005, đúng với yêu cầu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Cần giúp nông dân thực hiện đúng kỹ thuật trong các khâu chăm sóc, thu hái, sơ chế cà phê. Cần tăng cường kiểm tra, phân loại bằng văn bản chất lượng cà phê tại các xưởng chế biến. Có như thế, cà phê Việt Nam mới tránh được tình trạng bị thải loại 55-75% ở thị trường châu Âu, mới xây dựng được ngành cà phê Việt Nam có uy tín.
Vậy, chương trình cà phê Việt Nam đang xúc tiến ra sao?
Ta vẫn chưa có chương trình cà phê, kể từ năm 1980 tôi đã được lãnh đạo Chính phủ yêu cầu trình bày chương trình này.
Ngoài các nội dung nêu trên, nếu xây dựng chương trình cà phê hoặc chưa có chương trình, thì vẫn phải làm những việc không thể không làm. Đó là, đào tạo nguồn nhân lực cho cà phê, từ lĩnh vực sản xuất, trồng trọt, chế biến, đến nghiệp vụ kinh doanh, xúc tiến thương mại, xuất khẩu, để cà phê Việt Nam khỏi bị thua thiệt và mất uy tín trên thị trường quốc tế.
Có một vấn đề mà chỉ có Nhà nước mới làm được, là đổi mới tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, để tập hợp nông dân vào hợp tác xã kiểu mới hoàn toàn tự nguyện.
Chỉ có đổi mới tổ chức sản xuất, nông dân mới có điều kiện tiếp thu đồng đều kỹ thuật mới, tiếp cận thị trường trong và ngoài nước, làm ra sản phẩm có chất lượng cao, giá trị hàng hoá cao.
Một hướng đi quan trọng để mở rộng thị trường cà phê trong nước, lâu nay chưa được quan tâm, là khuyến khích người dân tiêu dùng cà phê. Việt Nam là nước sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới, nhưng lượng tiêu dùng cà phê lại vô cùng nhỏ bé.
Trong khi đó, Brazil sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, cũng là nước tiêu dùng cà phê lớn thứ hai thế giới (sau Mỹ), và đứng đầu trong các nước sản xuất cà phê. Các nghiên cứu khoa học nghiêm túc của Brazil cho thấy, uống cà phê rất có lợi cho sức khoẻ.
Việt Nam cần quan tâm đầu tư cho một chương trình xúc tiến tiêu dùng cà phê như Brazil đã làm có hiệu quả.




Thị trường vận tải biển quốc tế từ đầu tháng 5/2026 đến nay đang chứng kiến đợt tăng giá cước mạnh trên nhiều tuyến vận chuyển trọng điểm, đặc biệt là các tuyến kết nối châu Á với Bắc Mỹ và châu Âu. Đối với ngành thủy sản Việt Nam, đây là diễn biến đáng lo ngại bởi logistics luôn là một trong những khoản chi phí lớn nhất trong cơ cấu giá thành xuất khẩu...
Kết quả thẩm tra và phê duyệt cập nhật Danh sách doanh nghiệp thủy sản Việt Nam được phép xuất khẩu vào thị trường Đài Loan là cơ sở quan trọng giúp các doanh nghiệp duy trì hoạt động xuất khẩu ổn định, nâng cao khả năng tiếp cận và mở rộng thị phần...
Từ 1/7/2026, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận và chứng nhận lại chủng loại gạo thơm xuất khẩu sang EU và Vương quốc Anh để được hưởng ưu đãi thuế quan theo các Hiệp định EVFTA và UKVFTA sẽ chính thức được giao về địa phương. Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính, hướng tới mô hình quản lý linh hoạt hơn, sát thực tiễn hơn và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp...
Xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng trong những tháng đầu năm 2026 nhờ sự bứt phá của các thị trường châu Á, đặc biệt là Trung Quốc. Tuy nhiên, ngành gỗ cũng đang đối mặt với nhiều thách thức từ các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu xanh hóa ngày càng khắt khe từ EU và áp lực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để nâng cao năng lực cạnh tranh...
Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN (USABC) vừa có kiến nghị liên quan đến công tác quản lý nhập khẩu hóa chất của cơ quan chức năng Việt Nam. Theo Bộ Tài chính, đơn vị đã đề xuất lên Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Công thương rà soát, sửa đổi Nghị định số 26/2026/NĐ-CP để xử lý những bất cập trong quá trình triển khai.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.