Dự án cầu Đại Ngãi là công trình giao thông trọng điểm của đồng bằng sông Cửu Long trên tuyến quốc lộ 60, vượt sông Hậu, kết nối các tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng cũ (nay là Vĩnh Long và Cần Thơ).
ÁP LỰC VẬT LIỆU VÀ YÊU CẦU ĐIỀU PHỐI NGUỒN CUNG
Theo Ban quản lý Dự án 85 (Ban 85) - chủ đầu tư dự án - thì nhu cầu vật liệu phục vụ thi công cầu Đại Ngãi là rất lớn, đặc biệt là đá xây dựng và cát. Nhưng nguồn cung hiện nay chưa đáp ứng kịp tiến độ triển khai các gói thầu.
Chủ đầu tư cũng cho biết, việc thiếu hụt vật liệu, nhất là đá hộc, đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số hạng mục quan trọng. Hiện, nguồn đá từ các mỏ khu vực Đông Nam Bộ rất hạn chế do phải phân bổ cho nhiều dự án khác, trong khi nhu cầu tại công trường cầu Đại Ngãi tăng cao.
Vẫn theo Ban 85, không chỉ riêng dự án Đại Ngãi, mà tình trạng “khát” vật liệu đang diễn ra trên diện rộng tại khu vực miền Tây khi nhiều công trình giao thông trọng điểm đồng loạt triển khai. Điều này khiến bài toán cung cầu trở nên mất cân đối trong ngắn hạn.
Ở góc độ địa phương, lãnh đạo thành phố Cần Thơ nhìn nhận việc bảo đảm nguồn vật liệu là yếu tố then chốt để duy trì tiến độ các dự án hạ tầng. Phó chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Nguyễn Văn Hòa cho biết: Chính quyền Thành phố đang phối hợp với các tỉnh có mỏ vật liệu nhằm ưu tiên nguồn cung cho các công trình trọng điểm, đồng thời kiến nghị Trung ương xem xét các cơ chế đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn.
Nhiều ý kiến cũng cho rằng, vấn đề không chỉ nằm ở nguồn cung mà còn ở cơ chế điều phối. Việc thiếu một cơ chế liên kết vùng hiệu quả khiến tình trạng nơi thừa, nơi thiếu vật liệu vẫn xảy ra, làm gia tăng chi phí và ảnh hưởng tiến độ dự án.
MẶT BẰNG CƠ BẢN THÔNG SUỐT, XỬ LÝ DỨT ĐIỂM VƯỚNG MẮC
Bên cạnh vật liệu, công tác giải phóng mặt bằng từng là “nút thắt” lớn của dự án. Thực tế đến nay, phần lớn mặt bằng đã được bàn giao, tạo điều kiện để các nhà thầu triển khai đồng loạt nhiều mũi thi công.
Ghi nhận từ các địa phương liên quan, việc hoàn thành cơ bản công tác mặt bằng là kết quả của quá trình đẩy mạnh đối thoại, bảo đảm quyền lợi cho người dân bị ảnh hưởng. Đây được xem là yếu tố quan trọng giúp dự án không bị gián đoạn trong giai đoạn thi công cao điểm.
Tuy vậy, vẫn còn một số vướng mắc mang tính cục bộ, chủ yếu liên quan đến di dời hạ tầng kỹ thuật như hệ thống điện và các công trình phụ trợ. Đại diện đơn vị thi công cho biết, dù số lượng không nhiều nhưng đây lại là những vị trí có tính chất “điểm nghẽn”, nếu không xử lý kịp thời sẽ ảnh hưởng đến tiến độ từng đoạn.
“Chỉ cần một vài vị trí mặt bằng chưa hoàn chỉnh hoặc hạ tầng chưa di dời xong cũng có thể làm gián đoạn chuỗi thi công”, đại diện Ban 85 cho hay. Hiện các địa phương đang phối hợp với các đơn vị liên quan để giải quyết dứt điểm các tồn tại này, bảo đảm mặt bằng sạch, đồng bộ cho toàn tuyến.
Cầu Đại Ngãi có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện trục giao thông ven biển phía Đông, góp phần tăng cường kết nối giữa Cần Thơ với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Khi hoàn thành, dự án sẽ rút ngắn thời gian di chuyển, giảm tải cho quốc lộ 1 và mở ra không gian phát triển mới cho toàn vùng.
Công trình dự án cầu Đại Ngãi có tổng chiều dài tuyến khoảng 27,44 km, mức đầu tư hơn 7.962 tỷ đồng, được khởi công từ tháng 10/2023 và dự kiến hoàn thành vào tháng 6/2028. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng đã hoàn thành 100%, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà thầu đồng loạt triển khai thi công trên toàn tuyến.
Dự án chia làm hai gói thầu xây lắp gồm 11-XL và 15-XL. Trong đó, gói thầu 11-XL thi công nhánh cầu Đại Ngãi 2 đã hoàn thành 100% khối lượng và vượt tiến độ. Đối với gói thầu 15-XL là cầu dây văng lớn đang được các nhà thầu triển khai đồng bộ. Hiện công tác thi công phần móng và bệ trụ đã cơ bản hoàn thành; các mố, trụ cầu đã hoàn thành bê-tông đạt 100%, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật; việc đúc dầm đạt khoảng 98%; phần cầu dẫn và đường đầu cầu đang tập trung xử lý nền đất yếu và thi công nền đường.
7 tháng năm 2026, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì sự ổn định với những tín hiệu tích cực từ khu vực sản xuất và đầu tư công. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tăng 18,4% so với cùng kỳ, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11,4%, đánh dấu mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua. Đặc biệt, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân ước đạt 15,20 tỷ USD, thiết lập kỷ lục cao nhất của kỳ 7 tháng trong vòng 5 năm trở lại đây... Trong bối cảnh đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 7 tháng tăng 4,39%, và lạm phát cơ bản được giữ ở mức 4,19%...
Áp lực giải ngân trong thời gian còn lại của năm 2026 rất lớn, song vấn đề đặt ra không chỉ là giải ngân hết vốn mà phải chuyển vốn ngân sách thành khối lượng công trình thực tế, năng lực sản xuất mới và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Sau gần bốn thập kỷ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Việt Nam đang chuyển trọng tâm từ thu hút dòng vốn sang nâng cao chất lượng và giá trị. Theo HSBC, định hướng này được thể hiện trong Nghị quyết số 10-NQ/TW, với mục tiêu thu hút công nghệ, phát triển năng lực doanh nghiệp trong nước và tăng cường liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu…
Khi giá cả biến động bất thường vượt khả năng dự báo, các bên có thể xem xét sửa đổi hợp đồng xây dựng trên cơ sở đánh giá thiệt hại, bảo đảm hài hòa lợi ích và chia sẻ rủi ro...
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm 2026, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không? Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là chúng ta lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong chủ trì ngày 3/8, thông tin về tình hình phát triển kinh tế-xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm cho thấy các ngành sản xuất duy trì xu hướng tích cực.