
Cập nhật mới nhất của FiinTrade cho thấy tính đến sáng ngày 22/1/2024, đã có 472 doanh nghiệp niêm yết đại diện 39% vốn hóa trên ba sàn công bố báo cáo tài chính hoặc đưa ra ước tính sơ bộ về kết quả kinh doanh quý 4 và năm 2023. Con số này tăng gần 300 doanh nghiệp so với cập nhật của ngày 18/1 trước đó.
Tổng lợi nhuận sau thuế Q4/2023 của 472 doanh nghiệp này tăng 5,5% so với cùng kỳ. Trong đó, 39/91 ngân hàng và công ty thuộc ngành Tài chính ghi nhận mức tăng trưởng cao 16,4% trong khi lợi nhuận sau thuế của 433/1518 doanh nghiệp Phi tài chính giảm quý thứ 5 liên tiếp -11,8%.
Ngân hàng, Chứng khoán, Nhiệt điện và Dược phẩm là tâm điểm chú ý trong cập nhật lần này nhờ mức tăng trưởng lợi nhuận cao so với cùng kỳ trong quý 4.
Cụ thể, 10/17 Ngân hàng niêm yết (đại diện 60% vốn hóa toàn ngành) đạt mức tăng trưởng khá cao về lợi nhuận sau thuế trong quý 4/2023, tăng 8,2% so với cùng kỳ và 22,4% so với quý liền trước. Với Chứng khoán, xu hướng tăng trưởng mạnh về lợi nhuận sau thuế so với cùng kỳ nhưng giảm tốc so với quý trước vẫn không thay đổi dù có thêm nhiều công ty chứng khoán công bố kết quả kinh doanh trong 2 ngày vừa qua.
Lợi nhuận sau thuế của nhóm Nhiệt điện (NT2, QTP, PPC) bất ngờ tăng trưởng trở lại trong quý 4 sau khi giảm sâu trong quý 3 trước đó, chủ yếu nhờ biên lợi nhuận mở rộng và sản lượng huy động tích cực.
Nhà đầu tư cá nhân mua ròng 1.565,1 tỷ đồng, trong đó mua ròng khớp lệnh 1.165,6 tỷ đồng.
Tính đến ngày 24/7/2026, đã có 500/1.523 doanh nghiệp và ngân hàng niêm yết, đại diện 26,7% vốn hóa toàn thị trường, công bố báo cáo tài chính hoặc ước tính sơ bộ kết quả kinh doanh quý 2/2026, với tổng lợi nhuận sau thuế tăng 19,7%...
Đà phục hồi ấn tượng hôm qua đã không thể được tiếp nối trong phiên cuối tuần khi dòng tiền một lần nữa “buông”. Thị trường được trao lại vào tay người bán, phù hợp với những ai muốn tranh thủ cắt lỗ nốt.
Trong bối cảnh lãi suất trong nước vẫn neo ở mức cao, dư địa để dòng vốn nội tiếp tục mở rộng đòn bẩy với tốc độ như giai đoạn 2024-2025 nhằm bù đắp cho các đợt bán ròng mới của khối ngoại sẽ khó mở rộng thêm nhiều. Đây là điểm cần tiếp tục theo dõi.
Việt Nam ghi điểm ở định giá đang ở mức hấp dẫn, tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp và dư địa sở hữu, nhưng thiếu hai yếu tố phân định sự hấp dẫn: động lực lợi nhuận gắn với AI và tiềm ẩn áp lực về tỷ giá.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.