
Vốn chủ sở hữu 1.218.898 tỷ, tổng doanh thu 1.420.911 tỷ, lãi trước thuế 152.168 tỷ, lỗ lũy kế 9.025,902 tỷ... là những con số "đo" một phần sức khoẻ của 80 tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, công ty mẹ - công ty con.
Chính phủ vừa gửi đến Quốc hội báo cáo về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc và việc quản lý, sử dụng Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp năm 2018.
Theo báo cáo này thì tính đến thời điểm kết thúc năm tài chính 2018, có 855 doanh nghiệp có vốn Nhà nước và nhà nước đang đầu tư tại đây 1.533.001 tỷ đồng, tăng 6% so với thực hiện năm 2017.
Tách riêng tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của 80 tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, công ty mẹ - công ty con (gọi chung là tập đoàn, tổng công ty) Chính phủ cho biết khối này đang có tổng tài sản 2.690.431 tỷ đồng.
Đầu tư tài chính ngắn hạn theo số liệu báo cáo hợp nhất của khối là 356.715 tỷ đồng, tăng 21% so với 2017, còn đầu tư tài chính dài hạn là 127.261 tỷ đồng, giảm 3%.
Đáng chú ý, nợ khó đòi của các tập đoàn, tổng công ty tăng 2%, lên 12.277 tỷ đồng, chiếm 2% tổng số nợ phải thu.
Dẫn đầu về nợ khó đòi là các doanh nghiệp viễn thông: Tập đoàn Viễn thông quân đội 1.413 tỷ đồng; Tổng công ty Viễn thông Mobifone 605 tỷ đồng; Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam 493 tỷ đồng.
Trong số nợ phải thu khó đòi trên 300 tỷ có Tập đoàn công nghiệp Than – khoáng sản (385 tỷ đồng), tổng công ty Thương mại Sài Gòn (362 tỷ đồng), Tổng công ty Cà phê Việt Nam (361 tỷ đồng); Tập đoàn Điện lực Việt Nam (355 tỷ đồng)...
Báo cáo cũng điểm danh một số công ty mẹ có tỷ lệ nợ phải thu/tổng tài sản ở mức cao (trên 40%) như: Công ty mẹ - Tổng công ty Lương thực Miền Bắc (nợ phải thu là 5.486 tỷ đồng, chiếm 44%); Công ty mẹ - Tổng công ty Thái Sơn (nợ phải thu 2.041 tỷ đồng, bằng 62%); Công ty mẹ - Tổng công ty Truyền thông đa phương tiện (nợ phải thu 778 tỷ đồng, bằng 62%); Công ty mẹ - Tổng công ty Tài nguyên và Môi trường Việt Nam (nợ phải thu 218 tỷ đồng, chiếm 50%).
Phân tích nguồn vốn, Chính phủ cho biết, theo báo cáo hợp nhất của các tập đoàn, tổng công ty , tổng số nợ phải trả là 1.454.668 tỷ đồng, chiếm 54% tổng nguồn vốn. Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu bình quân năm 2018 là 1,13 lần (công ty mẹ là 1,20 lần); có 17 công ty mẹ có tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần.
Nợ vay cả ngắn hạn và dài hạn từ các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng trong nước của các tập đoàn, tổng công ty là 374.025 tỷ đồng, giảm 9%. Một số "ông lớn" có số nợ vay tương đối lớn như: Tập đoàn Điện lực Việt Nam 95.933 tỷ đồng; Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 114.769 tỷ đồng; Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam 42.961 tỷ đồng; Tập đoàn Viễn thông quân đội 28.658 tỷ đồng; Tập đoàn Hóa chất Việt Nam 27.467 tỷ đồng; Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam 11.056 tỷ đồng...
Nợ nước ngoài của các tập đoàn, tổng công ty là 484.769 tỷ đồng (vay ngắn hạn là 7.432 tỷ đồng; vay dài hạn là 477.337 tỷ đồng). Trong đó, vay lại vốn ODA của Chính phủ là 186.256 tỷ đồng, vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh là 220.497 tỷ đồng, vay nước ngoài theo hình thức tự vay, tự trả là 70.584 tỷ đồng, còn lại là các hình thức huy động khác.
Về tình hình sản xuất kinh doanh, theo báo cáo, khối các doanh nghiệp lớn này có tổng doanh thu đạt 1.420.911 tỷ đồng, tăng 9%, lãi phát sinh trước thuế 152.168 tỷ đồng, tăng 3%.
Báo cáo hợp nhất có 10 tập đoàn, tổng công ty còn lỗ lũy kế là 9.025,902 tỷ đồng và 4 công ty mẹ còn lỗ lũy kế là 1.054,262 tỷ đồng.
Năm 2018, tổng các khoản phát sinh phải nộp ngân sách đạt 231.697 tỷ đồng, tăng 5%.
Những tập đoàn, tổng công ty có số thu vào ngân sách nhà nước lớn như tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam 79.579 tỷ đồng, Tập đoàn Viễn thông quân đội 34.036 tỷ đồng; Tập đoàn Điện lực Việt Nam 25.903 tỷ đồng...
Chính phủ khẳng định, doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua vẫn là công cụ để điều tiết nền kinh tế, bảo đảm thực hiện có hiệu quả các chính sách ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tạo nguồn thu cho ngân sách.
Tuy nhiên, hiệu quả sản xuất kinh doanh và đóng góp của một số doanh nghiệp nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực Nhà nước đầu tư, một số dự án của doanh nghiệp nhà nước còn thua lỗ, thất thoát vốn lớn, mà điển hình là 12 dự án thua lỗ lớn của ngành công thương.




Phiên họp thứ 3 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đồng ý chủ trương tổ chức Kỳ họp Quốc hội không thường lệ, dự kiến được tổ chức vào đầu tháng 8/2026.
Ban Biên tập và tập thể những người làm báo tại Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy – Vietnam Economic Times trân trọng cảm ơn sự quan tâm sâu sắc, những tình cảm tốt đẹp, quý báu, sự tin tưởng của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các bộ, ngành, các cơ quan, đơn vị, các doanh nghiệp đã dành cho Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy - Vietnam Economic Times...
Sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu rà soát tiêu chí, làm rõ sự cần thiết tiếp tục sáp nhập một số xã, phường.
Trong những tháng cuối năm 2026, Đảng ủy Liên hiệp Hội Việt Nam tiếp tục tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát, thực hiện các nghị quyết của Trung ương. Đồng thời tập trung chỉ đạo, chuẩn bị thật tốt để tổ chức thành công Đại hội lần thứ IX của Liên hiệp Hội Việt Nam...
Lễ khởi công có sự tham dự của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, đây được xem là chương trình đầu tư hạ tầng và an sinh xã hội có quy mô lớn nhất từ trước tới nay của Thủ đô...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Cuối tháng 6 này, sàn giao dịch tín chỉ carbon dự kiến sẽ chính thức được đưa vào vận hành. Hiện các đơn vị liên quan đang khẩn trương hoàn thiện các hạng mục bảo đảm hoạt động đăng ký, lưu ký, giao dịch và thanh toán hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được thực hiện thông suốt, minh bạch và hiệu quả.