Hỏi chuyện ông Hisatsugu Furukawa, chuyên gia về chính sách tiền tệ - Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA).
Ông bình luận gì về chính sách tiền tệ được áp dụng ở Việt Nam trong thời gian gần đây?
Trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã làm rất tốt vai trò của mình. Khi thị trường chứng khoán quá nóng, chỉ thị hạn chế dư nợ cho vay chứng khoán là cần thiết. Khi lạm phát cao thì thắt chặt tiền tệ là cách làm hợp lý. Lãi suất huy động tăng nóng cần được hãm phanh khẩn cấp bởi giới hạn lãi suất.
Nhưng xem ra, các ngân hàng thương mại không thực hiện theo tinh thần của chính sách mà vẫn tìm cách “lách” chính sách?
Các ngân hàng tăng tổng dư nợ tín dụng để hạ tỷ lệ dư nợ cho vay chứng khoán, cạnh tranh lãi suất để huy động vốn, khuyến mại bù lãi suất khi giới hạn lãi suất được áp dụng là những cách được các ngân hàng áp dụng để chống chế với chính sách của Ngân hàng Nhà nước.
Có lẽ, Ngân hàng Nhà nước nên tìm hiểu kỹ hơn những người chơi trên thị trường và xem lại cách thức làm cho họ hiểu và thực hiện theo ý nghĩa của các chính sách.
Thị trường tiền tệ Việt Nam chưa phát triển hoàn thiện nên thời điểm và cách thức thực hiện các chính sách phải được cân nhắc rất kỹ. Các chính sách khẩn cấp và dài hạn cần hỗ trợ lẫn nhau. Ví dụ, cạnh tranh lãi suất giữa các ngân hàng là bình thường vì nhiều ngân hàng mới được thành lập, thị trường có thêm người chơi và các ngân hàng cũng cần vốn để đáp ứng chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.
Tuy nhiên, một khi cuộc đua này có nguy cơ mang lại rủi ro lớn cho thị trường thì hãm phanh lãi suất là một biện pháp cảnh báo hiệu quả và cần thiết trong ngắn hạn, nhưng Ngân hàng Nhà nước phải tiếp tục nghiên cứu để có những chính sách dài hạn để ổn định và phát triển thị trường tiền tệ.
Đồng thời, một nhiệm vụ quan trọng nhưng khá vất vả của Ngân hàng Nhà nước là kiểm soát hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Nhà nước nên yêu cầu các ngân hàng thương mại cung cấp các báo cáo định kỳ, giám sát chặt chẽ hơn xem họ đang làm gì, chẳng hạn, tăng tần suất nộp báo cáo tài chính của các ngân hàng.
Và Ngân hàng Nhà nước phải luôn luôn xem xét các báo cáo này bằng con mắt đầy hoài nghi. Điều này đòi hỏi phải có thời gian.
Biên độ tỷ giá VND/USD được nới rộng có hợp lý không, thưa ông?
Ngân hàng Nhà nước hiện nay đã nới rộng biên độ dao động tỷ giá. Chính sách này hoàn toàn đúng đắn, vấn đề là con số /- 1% đã là hợp lý chưa.
Hiện nay, tỷ giá thực tế (actual exchange rate) và tỷ giá chính thức (official exchange rate) của VND và USD đang có khoảng cách tương đối, nên thị trường ngoại hối đang gặp một số khó khăn.
Đã có rất nhiều ý kiến xung quanh vấn đề này, theo tôi, Việt Nam vẫn cần một chính sách tỷ giá linh hoạt hơn nữa, biên độ nên được nới rộng hơn, để tỷ giá phản ánh sát cung-cầu ngoại hối. Các cơ quan chức năng cần nhìn rõ hơn, tỷ giá thực tế trên thị trường.
Việc tăng giá đồng VND cũng ảnh hưởng đến xuất khẩu nhưng nếu chính sách này được áp dụng một cách từ từ, hợp lý về liều lượng thì về lâu dài sẽ tốt cho cả nền kinh tế.
Một cách khác, Việt Nam có thể áp dụng cơ chế rổ tiền tệ để xác định tỷ giá. Bởi vì tỷ giá được hình thành dựa trên cung cầu ngoại hối. Mỗi nước đều có quan hệ thương mại với nhiều nước khác nhau. Vì vậy, cần xem xét tỷ giá dựa trên cung cầu ngoại hối trong xuất nhập khẩu với nhiều nước khác nhau.
Tất nhiên, khi áp dụng cơ chế này, các bạn cũng cần xem lại thành phần trong rổ tiền tệ đó theo từng thời kỳ nhất định để có những điều chỉnh hợp lý.
Tại Pháp, đồng Franc từng có lãi suất 20%/năm và tại Mỹ, lãi suất đồng USD đã có lúc lên đến 10%/năm, Nhật đã trải nghiệm những trúc trắc tương tự như vậy chưa?
Nhật Bản đã từng trải qua những giai đoạn khó khăn trên thị trường tiền tệ như vậy. Năm 1973, kinh tế Nhật phải đương đầu với tình trạng siêu lạm phát (hyper-inflation), giá cả hàng hóa tăng gấp đôi trong thời gian rất ngắn.
Từ 1986-1991, Nhật Bản lại gặp hiện tượng bong bóng trên thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán. Mọi người đổ xô đi mua đất đai và nhà cửa vì giá cả của mặt hàng này leo thang liên tục.
Trong cả hai trường hợp đó, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã áp dụng những chính sách thắt chặt tiền tệ rất cứng rắn, tăng lãi suất, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc khẩn cấp, hạn chế và giám sát sít sao tín dụng bất động sản.
Kết quả là, các biện pháp này có tác dụng rất nhanh chóng, bong bóng bất động sản được xì hơi. Tuy nhiên, BOJ đã áp dụng chính sách này cho nền kinh tế quá lâu, nên sau đó, nền kinh tế đã bị chậm lại, hiện tượng giảm phát đã xảy ra. Trong suốt 10 năm sau, việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển là khá khó khăn.
Vì vậy, việc xác định đúng thời điểm thay đổi chính sách là rất quan trọng. Nếu một chính sách tiền tệ thắt chặt được áp dụng cho nền kinh tế quá lâu có thể “giết chết” nhiều hoạt động kinh tế.
Dường như nước nào cũng khó tránh khỏi một giai đoạn khó khăn như vậy?
Đấy là bài học của rất nhiều nền kinh tế trên thế giới. Về lý thuyết, rất nhiều người đã nhận thức được điều này, nhưng trên thực tế, để dự báo và phòng tránh được là rất khó.