Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), trong năm 2024 có 119 quốc gia và vùng lãnh thổ cung cấp gỗ và sản phẩm gỗ cho Việt Nam. Tuy nhiên, giá trị nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong năm 2024 tập trung ở 5 thị trường chính, gồm: Trung Quốc đạt gần 1,1 tỷ USD, tăng 44,4% so với năm 2023, chiếm 39% tổng kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của cả nước; tiếp đến là Hoa Kỳ đạt 316,36 triệu USD, tăng 32,9%; Cameroon đạt 143 triệu USD, giảm 19%; Thái Lan đạt 128,03 triệu USD, tăng 21,5%; Lào đạt 126,83 triệu USD, tăng 13,8%.
Sản lượng gỗ rừng trồng khai thác trong năm 2024 của Việt Nam đạt 23,334 triệu m3, tăng 7,9% so với năm 2023. Tuy nhiên, lượng gỗ này vẫn chưa đủ đáp ứng cho chế biến đồ gỗ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Vì vậy, năm 2024, nước ta vẫn phải chi 2,4 tỷ USD để nhập khẩu gỗ nguyên liệu, chiếm 85,2% trong tổng kim ngạch 2,81 tỷ USD nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam. Trong khi, các mặt hàng thuộc nhóm đồ gỗ chỉ nhập khẩu 416,89 triệu USD, chiếm 14,8% trong tổng kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ.
Theo VIFOREST, năm 2024, Việt Nam nhập khẩu trên 1,83 triệu m3 gỗ tròn, đạt 497,83 triệu USD, tăng 13% về lượng và 9,5% về giá trị so với năm 2023. Có 80 quốc gia và vùng lãnh thổ cung gỗ tròn cho Việt Nam. Tuy nhiên, 5 thị trường có lượng cung lớn, chiếm 50,9% tổng lượng gỗ tròn Việt Nam nhập gồm: Hoa Kỳ, Bỉ, Cameroon, Pháp và Papua New Guinea (PNG).
Nhập khẩu gỗ xẻ trong năm 2024 cũng tăng mạnh cả về lượng và giá trị, với lượng nhập 2,39 triệu m3, giá trị 923,05 triệu USD, tăng 66,9% về lượng và 66,4% về giá trị so với năm 2023. Có 92 quốc gia và vùng lãnh thổ cung cấp gỗ xẻ cho Việt Nam, nhưng 5 nguồn cung lớn nhất gồm Hoa Kỳ, Chile, Lào, Cameroon và Brazil. Tổng lượng gỗ xẻ cung từ 5 thị trường này đạt trên 1,33 triệu m3, chiếm trên 55,7% tổng lượng gỗ xẻ Việt Nam nhập khẩu.
Cùng với gỗ tròn và gỗ xẻ, nhập khẩu các loại gỗ công nghiệp cũng tăng mạnh, với các loại: gỗ dán, ván bóc, ván sợi. Năm 2024, Việt Nam nhập khẩu hơn 565,82 nghìn m3 gỗ dán, giá trị 218,27 triệu USD, tăng 44% về lượng và 37% về giá trị so với năm 2023. Số lượng thị trường cung gỗ dán cho Việt Nam trong năm 2024 tăng lên 31 thị trường, so với năm 2023 là 27 thị trường. Trong đó, Việt Nam nhập từ Trung Quốc 524,08 nghìn m3 gỗ dán, đạt 198,39 triệu USD, tăng 48,5% về lượng và 43,6% về giá trị so với năm 2023. Nguồn gỗ dán nhập từ Trung Quốc chiếm 92,6% tổng lượng gỗ dán Việt Nam nhập khẩu trong năm 2024.
Năm 2024, Việt Nam nhập khẩu 268,52 nghìn m3 veneer/ván bóc, tăng 38,4% so với năm 2023, về giá trị đạt 328,45 triệu USD, tăng 43,1% so với năm trước đó. Có 40 quốc gia và vùng lãnh thổ cung cấp mặt hàng veneer/ván bóc cho Việt Nam trong năm 2024, tuy nhiên có 3 thị trường chính chiếm 90% tổng lượng veneer/ván bóc mà Việt Nam nhập khẩu, gồm: Trung Quốc, Latvia, Hoa Kỳ.
Cụ thể, Trung Quốc là nguồn cung veneer/ván bóc số 1 của Việt Nam, với lượng 226,35 nghìn m3, giá trị 282,88 triệu USD, tăng 31,4% về lượng và 40% về giá trị so với năm 2023; Latvia đứng thứ hai, cung cấp 10,7 nghìn m3, đạt 4,51 triệu USD, tăng 62,5% về lượng và 108% về giá trị; Hoa Kỳ đứng thứ 3, cung cấp 4,24 nghìn m3 veneer/ván bóc cho Việt Nam, đạt 6,72 triệu USD, tăng 103% về lượng và 108% về giá trị.
Năm 2024, Việt Nam nhập 837,9 nghìn m3 ván sợi, giá trị 201,03 triệu USD, tăng 59% về lượng và 36,8% về giá trị so với năm 2023. Có 32 thị trường cung mặt hàng ván sợi cho Việt Nam. Trong đó, Trung Quốc cung cấp 479,96 nghìn m3, đạt 101,96 triệu USD, tăng 102,7% về lượng và 79,5% về giá trị so với năm 2023, chiếm 57,3% tổng lượng ván sợi Việt Nam nhập khẩu; Thái Lan cung cấp 247,08 nghìn m3, đạt 60,28 triệu USD, tăng 16,3% về lượng và 14,3% về giá trị so với năm 2023, chiếm 29,5% tổng lượng ván sợi Việt Nam nhập khẩu.
TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình chính sách thương mại lâm sản, Tổ chức Forest Trends, nhận định nhập khẩu gỗ nguyên liệu đã có sự chuyển dịch rất nhanh từ các nguồn cung rủi ro cao sang các nguồn cung đảm bảo tính hợp pháp.
Trước đây, Việt Nam nhập khẩu gỗ tròn và gỗ xẻ phần lớn từ Lào, Campuchia và các nước châu Phi – là những nước vẫn còn sự rủi ro cao về tính hợp pháp của gỗ. Đến năm 2024, trong số 5 nguồn cung gỗ tròn lớn nhất cho Việt Nam, có 3 nguồn cung đến từ các nước có tính hợp pháp gỗ cao, đó là Hoa Kỳ (đứng thứ nhất), Bỉ (ở vị trí thứ 2), và Pháp (thứ tư).
Trong số 5 thị trường cung cấp gỗ xẻ lớn nhất cho Việt Nam, Hoa Kỳ cũng đã vươn lên vị trí thứ nhất. Các loại gỗ xẻ từ các luồng cung tích cực chủ yếu là gỗ rừng trồng, trong đó nhiều nhất là tần bì, thông, dương.
Theo TS. Tô Xuân Phúc, kiểm soát tính hợp pháp của gỗ nguyên liệu nhập khẩu rất quan trọng đối với ngành gỗ Việt Nam. Việt Nam và EU có Hiệp định VPA/FLEGT, cam kết chỉ sử dụng gỗ hợp pháp. Hoa Kỳ có Đạo luật Lacey Act là đạo luật cấm buôn bán các loài cây và sản phẩm liên quan có nguồn gốc bất hợp pháp, bao gồm cả gỗ và các sản phẩm gỗ.
Hoa Kỳ cũng vừa xây dựng một khung pháp lý chặt chẽ để quản lý tài nguyên rừng và bảo đảm tính hợp pháp của gỗ; đồng thời sẵn sàng áp đặt các biện pháp cứng rắn theo các luật trao quyền rất lớn cho Tổng thống yêu cầu các quốc gia sản xuất, cung cấp gỗ và sản phẩm từ gỗ vào Hoa Kỳ phải chấp nhận chính sách “Nước Mỹ trên hết” trong bảo hộ sản xuất nội địa và thương mại quốc tế.
Ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký VIFOREST, cho biết xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 8,8 tỷ USD trong năm 2024. Từ chiều ngược lại, gỗ nguyên liệu từ Hoa Kỳ luôn đảm bảo yêu cầu về gỗ hợp pháp, vì vậy ngành gỗ Việt Nam đang hướng đến nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ nguồn này.
“Mới đây, Trung Quốc đã cấm nhập gỗ tròn, gỗ xẻ từ Hoa Kỳ, mỗi năm ước tính khoảng 2 tỷ USD, vì vậy Hoa Kỳ đang tìm đầu ra cho ngành hàng xuất khẩu này. Do đó, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam mong muốn sẽ nhập khẩu khối lượng gỗ tròn và gỗ xẻ này từ Mỹ để phục vụ chế biến gỗ, sau đó xuất khẩu”, ông Ngô Sỹ Hoài chia sẻ...
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 15-2025 phát hành ngày 14/4/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/tap-chi-kinh-te-viet-nam/detail/1354
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Đóng góp quan trọng nhất mà VIFC-HCMC có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế quốc gia không đơn thuần là thu hút thêm dòng vốn, mà trở thành nền tảng đáng tin cậy để dòng vốn khu vực và toàn cầu lưu chuyển qua đó...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ nhằm đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang quản lý bằng dữ liệu và hậu kiểm. Mục tiêu là rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu...
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.