
Thừa nhận có rất nhiều lĩnh vực hoạt động ưu tiên trong nhiệm kỳ 3 năm của mình tại Việt Nam, nhưng
tân Đại sứ Mỹ Michael Michalak
cũng khẳng định rằng kinh tế là một trong những ưu tiên hàng đầu, và ông sẽ làm việc tích cực để thúc đẩy và cải thiện quan hệ kinh tế giữa Mỹ và Việt Nam.
Hiện nay, vốn đăng ký đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam là 7 tỉ USD nhưng vốn thực hiện còn nhỏ, khoảng 2 tỉ USD. Vậy Đại sứ sẽ làm gì để góp phần đẩy mạnh đầu tư của Mỹ vào Việt Nam trong những năm tới?
Nhiều người Mỹ cho rằng Mỹ là nhà đầu tư số 1 tại Việt Nam vì có những khoản tiền thực tế là của các công ty Mỹ nhưng lại đầu tư thông qua nước thứ ba. Tôi thì nói rằng các công ty của Mỹ đầu tư vào Việt Nam không chỉ để nước Mỹ đạt được danh hiệu nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, mà còn để thu lợi nhuận.
Vì vậy, khi họ tìm kiếm và đưa ra quyết định đầu tư vào một nước nào đó thì họ căn cứ vào môi trường đầu tư. Như vậy có nghĩa là các công ty của Mỹ muốn nhìn thấy hệ thống chính sách ổn định, các quy định của pháp luật phải công khai, minh bạch và cho phép các công ty được đóng góp ý kiến về những quy định liên quan đến doanh nghiệp khi nó còn đang trong quá trình thảo luận.
Thực tế, Việt Nam đã có những tiến bộ nhất định trong việc thu hút đầu tư và cũng đang thu hút được nhiều khoản đầu tư. Tôi cho rằng Việt Nam còn có thể thu hút được nhiều đầu tư hơn nữa.
Trong khuôn khổ của Hiệp định TIFA (hiệp định khung về thương mại và đầu tư) hai nước sẽ trao đổi với nhau nhiều vấn đề như tính minh bạch, quản trị và nền pháp quyền. Hiện nay, chúng tôi cũng đã bắt đầu thảo luận với Việt Nam về khả năng hai nước sẽ ký một hiệp ước về đầu tư song phương (BIT).
Chắc chắn tôi còn khuyến khích Việt Nam cải thiện môi trường đầu tư và bản thân tôi sẽ giới thiệu các công ty Mỹ đến Việt Nam, nhưng họ sẽ tự đánh giá và đưa ra quyết định.
Mỹ là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam ở nước ngoài, theo Đại sứ, điều gì cần quan tâm hơn cả để thúc đẩy hơn nữa kim ngạch buôn bán giữa hai nước?
Hiện nay, Việt Nam bán sang Mỹ hàng hoá và dịch vụ trị giá 9 tỉ USD trong khi đó Mỹ bán sang Việt Nam trị giá 1,5 tỉ USD. Tôi nghĩ rằng Việt Nam cần mua nhiều hơn nữa hàng hoá và dịch vụ của Mỹ để cán cân thương mại cân bằng hơn.
Người Mỹ mua những sản phẩm chất lượng tốt, giá tốt, được giao hàng đúng hẹn và đáng tin cậy. Nếu Việt Nam có thể giao những hàng như vậy thì chắc chắn sẽ có thị trường cho hàng hoá của Việt Nam ở Mỹ. Đồng thời tôi cũng muốn nói rằng người Mỹ sản xuất ra những mặt hàng chất lượng cao, giá tốt, chẳng hạn như sản phẩm hi-tech. Và như vậy, Việt Nam có thể mua để giúp cho phát triển công nghiệp của mình. Tôi kêu gọi Chính phủ Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam hãy xem và cân nhắc những mặt hàng đó và mua.
Bộ Thương mại Mỹ đang đánh giá lại chương trình giám sát hàng dệt may của Việt Nam xuất sang Mỹ. Ông có nghĩ rằng chương trình này ảnh hưởng đến các nhà sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam cũng như người mua hàng và nhà nhập khẩu của Mỹ hay không?
Theo những số liệu mà tôi có được thì xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm nay so với năm trước đã tăng 40-50%. Điều đó cho thấy hàng xuất khẩu dệt may Việt Nam đã tăng rất nhiều và hiện không gặp phải vấn đề kiện phá giá cũng như các biện pháp hạn chế.
Còn về vấn đề giám sát tình hình xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Mỹ, không chỉ có riêng Mỹ theo dõi mà chính bản thân Việt Nam cũng có hệ thống giám sát. Tôi đã nói chuyện với những người mua hàng dệt may của Việt Nam và sản xuất hàng dệt may ở Mỹ, và tôi tin rằng cả hai nhóm đều không hoàn toàn hài lòng về cơ chế giám sát, như vậy chúng ta đang có sự thoả hiệp khá tốt.
Và nếu như tình trạng thực tế hiện nay vẫn tiếp tục thì không có gì phải lo lắng về hệ thống giám sát hàng dệt may của Mỹ cũng như hệ thống giám sát của Việt Nam.




Thị trường vận tải biển quốc tế từ đầu tháng 5/2026 đến nay đang chứng kiến đợt tăng giá cước mạnh trên nhiều tuyến vận chuyển trọng điểm, đặc biệt là các tuyến kết nối châu Á với Bắc Mỹ và châu Âu. Đối với ngành thủy sản Việt Nam, đây là diễn biến đáng lo ngại bởi logistics luôn là một trong những khoản chi phí lớn nhất trong cơ cấu giá thành xuất khẩu...
Kết quả thẩm tra và phê duyệt cập nhật Danh sách doanh nghiệp thủy sản Việt Nam được phép xuất khẩu vào thị trường Đài Loan là cơ sở quan trọng giúp các doanh nghiệp duy trì hoạt động xuất khẩu ổn định, nâng cao khả năng tiếp cận và mở rộng thị phần...
Từ 1/7/2026, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận và chứng nhận lại chủng loại gạo thơm xuất khẩu sang EU và Vương quốc Anh để được hưởng ưu đãi thuế quan theo các Hiệp định EVFTA và UKVFTA sẽ chính thức được giao về địa phương. Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính, hướng tới mô hình quản lý linh hoạt hơn, sát thực tiễn hơn và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp...
Xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng trong những tháng đầu năm 2026 nhờ sự bứt phá của các thị trường châu Á, đặc biệt là Trung Quốc. Tuy nhiên, ngành gỗ cũng đang đối mặt với nhiều thách thức từ các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu xanh hóa ngày càng khắt khe từ EU và áp lực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để nâng cao năng lực cạnh tranh...
Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN (USABC) vừa có kiến nghị liên quan đến công tác quản lý nhập khẩu hóa chất của cơ quan chức năng Việt Nam. Theo Bộ Tài chính, đơn vị đã đề xuất lên Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Công thương rà soát, sửa đổi Nghị định số 26/2026/NĐ-CP để xử lý những bất cập trong quá trình triển khai.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.